Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀ CÚ

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/HS-ST

Ngày 24-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Truyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Sơn Ken

Ông Thạch Tấn Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chế Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Kim Sum, Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 75/2024/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với:

  1. Bị cáo Trần Trung C, sinh ngày 06/9/1991, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Trần Văn S, sinh ngày 01/01/1967 và bà Phạm Thị H, sinh ngày 01/01/1972; bị cáo sống chung như vợ chồng với bà Trần Thị Cẩm P, sinh năm 1998, con 01 (một) người con tên Trần Thiên V, sinh ngày 28/12/2018; tiền án: 01 (một) tiền án, ngày 25/02/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Trà Cú xử phạt 05 năm tù về tội tàng trữ sử dụng trái phép chất ma túy theo bản án số 04/2020/HSST. Đến ngày 01/09/2023 bị cáo C đã chấp hành xong nhưng chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa từng bị kết án và chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào khác; bị tạm giữ ngày 22/01/2024, đến ngày 28/01/2024 thì chuyển sang tạm giam cho đến nay., có mặt.
  2. Bị cáo Ngô Minh S1, sinh ngày 05/01/2006, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Ngô Văn T, sinh ngày 01/01/1967 và bà Trần Thị Mỹ Hằng, sinh ngày 01/01/1973; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa từng bị kết án và chưa bị xử phạt vi phạm hành chính lần nào; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/4/2024 cho đến nay, có mặt.

- Người làm chứng:

Ông Châu Vĩnh Đ, sinh năm 2007. Nơi cư trú ấp X, xã N huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt

Ông Trần Văn S, sinh năm 1967. Nơi cư trú khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt

Ông Phạm Thành T1, sinh năm 1998. Nơi cư trú khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại nhà ở của bị cáo Trần Trung C, địa chỉ khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh có một số đối tượng đang tụ tập sử dụng trái phép chất ma túy (bị cáo C đã có 01 tiền án về tội phạm rất nghiêm trọng do cô ý, chưa được xóa án tích). Đến khoảng 12 giờ ngày 22/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T kết hợp Công an thị trấn T tiến hành kiểm tra phòng ngủ của bị cáo C, phát hiện bị cáo Ngô Minh S1 và Châu Vĩnh Đ, sinh ngày 12/11/2007, nơi cư trú ấp X, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh vừa sử dụng trái phép chất ma túy xong. Tiến hành kiểm tra tại hiện trường phát hiện trên nền gạch trong phòng ngủ có 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy (thường gọi là bình ma túy, trong bình có gắn 01 (một) ống thủy tinh được uốn cong còn gọi là nỏ, bên trong ống nỏ có chứa chất bám nghi là ma túy). Cơ quan điều tra đã ra Lệnh giữ người trong hợp khẩn cấp đối với bị cáo C và tạm giữ toàn bộ tang vật.

Qua điều tra, đã làm rõ được như sau: Ngày 22/01/2024, bị cáo S1 đến nhà của bị cáo C để chơi. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo S1 cùng bị cáo C đi vào phòng ngủ của bị cáo C để tiếp tục trò chuyện. Tại đây, bị cáo S1 nhìn thấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của bị cáo C đang để cạnh tường, gần cửa ra vào trong phòng và thấy chất ma túy còn trong ống nỏ. Lúc này, bị cáo S1 muốn sử dụng chất ma túy nên nói với bị cáo C: “Cho em xin chơi”, nghĩa là xin ma túy từ bị cáo C để sử dụng thì bị cáo C đồng ý và nói: “Còn lấy chơi đi”. Bị cáo S1 lấy đèn ga tự chế mà trước đây bị cáo S1 đã cất giấu tại phòng ngủ của bị cáo C, sau đó sử dụng bật lửa của bị cáo S1 mang theo đốt để đèn ga tự chế cháy lên, nấu ma túy trong ống nỏ để bị cáo S1 sử dụng, bị cáo S1 hút được 02 hơi thì để bình sử dụng ma túy trên nền gạch trước mặt bị cáo và ngồi chơi game.

Khoảng 15 phút sau, Đ đến nhà của bị cáo C để chơi và đi vào phòng ngủ của bị cáo C gặp bị cáo S1 và bị cáo C trong phòng. Do bị cáo S1 biết được Đ trước đây có từng sử dụng trái phép chất ma túy và muốn Đ sử dụng chất ma túy chung với mình nên bị cáo S1 kêu Đ hút ma túy, đồng thời đánh mặt của bị cáo về vị trí đang để bộ dụng cụ sử dụng ma túy trên nền gạch trước mặt Đ để Đ nhìn thấy. Sau đó, bị cáo S1 tiếp tục dùng đèn ga đốt hút ma túy thêm 01 (một) hơi và để bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy tại vị trí ban đầu trước mặt của Đ. Khi được bị cáo S1 rủ, Đ đã lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy và đèn ga tự chế mà bị cáo S1 vừa sử dụng xong đốt ma túy còn lại trong ống nỏ hút được 01 hơi xong Đ đưa bộ D sử dụng ma túy lại cho bị cáo S1 tiếp tục đốt và hút hết số ma túy còn lại trong ống nỏ. Trong lúc bị cáo S1 và Đ sử dụng ma túy tại phòng ngủ của mình, bị cáo C đang nằm trên giường và chứng kiến toàn bộ sự việc nhưng bị cáo C không phản đối hay ngăn cản gì.

Do muốn cùng với Đ tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo S1 đã lao ống nỏ và xin thêm ma túy từ bị cáo C. Bị cáo S1 nói với bị cáo C: “Anh ơi còn đồ cho em xin một chút đổ vô để chơi với Đ”, có nghĩa là xin ma túy để sử dụng cùng với Đ thì bị cáo C đồng ý cho và nói với bị cáo S1: “Ở phía sau ti vi lấy sử dụng hết đi”. Lúc này, bị cáo S1 đứng dậy đi đến vị trí ti vi đang treo trên vách tường trong phòng ngủ của bị cáo C lấy ra từ phía sau ti vi, sát vách tường 01 (một) bịch nhựa bên trong có chất ma túy và đưa lại cho Đ để sử dụng. Thời điểm này do điện thoại di động của bị cáo S1 hết pin nên bị cáo S1 về nhà của bị cáo để lấy bộ sạc điện thoại. Trong lúc bị cáo S1 về nhà, Đ lấy bịch ma túy do bị cáo S1 đưa cho, đổ hết ma túy vào trong ống nỏ thủy tinh và dùng đèn ga tự đốt hút liên tục 02 (hai) hơi.

Khoảng 10 phút sau, bị cáo S1 quay lại và đi vào phòng ngủ của bị cáo C. Bị cáo S1 tiếp tục ngồi xuống nền gạch đối diện với Đ như lúc ban đầu. Riêng bị cáo C vẫn nằm trên giường trong phòng ngủ của bị cáo cạnh vị trí bị cáo S1 và Đ đang ngồi. Thời điểm này, bị cáo S1 nhìn thấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy để trên nền gạch đối diện với Đ, bên trong ống nỏ vẫn còn chất ma túy. Bị cáo S1 biết được Đ đã đổ ma túy của bị cáo xin từ bị cáo C vào trong ống nỏ để sử dụng. Lúc này, bị cáo S1 đã lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy và dùng đèn ga đốt nóng ma túy trong nỏ để hút. Sau khi hút được 02 (hai) hơi, bị cáo S1 đưa bộ dụng cụ sử dụng ma túy cho Đ để tiếp tục sử dụng. Do trong phòng có nhiều khói nên bị cáo C đã đi ra ngoài. Riêng bị cáo S1 và Đ vẫn ở lại trong phòng để tiếp tục sử dụng số ma túy còn lại trong ống nỏ. Lúc này, do Đ đang chơi game nên bị cáo S1 đốt nóng ma túy trong ống nỏ để cả hai thay phiên nhau hút được mỗi người 02 (hai) hơi thì hết chất ma túy. Khi bị cáo S1 và Đ vừa sử dụng xong ma túy, lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện và tạm giữ các đồ vật có liên quan. Tại Cơ quan điều tra, bị cáo C, bị cáo S1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như nêu trên.

Căn cứ Bản kết luận giám định số: 46/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Bên trong 01 (một) ống thủy tinh (nỏ) được niêm phong gửi giám định có tìm thấy ma túy; loại Methamphetamine; dạng vết không xác định được khối lượng.

* Về việc tạm giữ và xử lý vật chứng có liên quan trong vụ án:

Ngày 26/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định tạm giữ đồ vật, tài liệu, cụ thể như sau:

  • - 01 (một) ống thủy tinh (nỏ) không rõ hình dạng bị bể thành nhiều mảnh được để trong túi niêm phong số: 46/2024/M ghi ngày 26/01/2024 với dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M, Phan Vĩnh V1.
  • - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: phần dưới bằng nhựa màu trắng, phần trên bằng nhựa trong suốt, bên trong có 03 (ba) hột xí ngầu màu hồng, 02 (hai) hột xí ngầu màu vàng và 01 (một) hột xí ngầu màu xanh, phía trên có gắn 01 (một) ống hút bằng nhựa màu trắng. Được niêm phong, để trong túi niêm phong ký hiệu NS3 mã số NS3 1914201 có chữ ký của điều tra viên Trương Quốc K và Trần Trung C.
  • - 01 (một) đèn ga tự chế: phần chứa khí ga làm bằng nhựa trong suốt (hình bật lửa) phần đáy màu đỏ, bên trong có chứa 02 viên xí ngầu màu đỏ; phần ngọn đèn làm bằng ống kim loại màu trắng. Được niêm phong, để trong túi niêm phong ký hiệu NS3 mã số NS3 1914278 có chữ ký của điều tra viên Cao Minh T2 và Ngô Minh S1.

- Đối với nguồn gốc ma túy và ống nỏ thủy tinh của bị cáo C cung cấp để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo C đã mua từ một nam thanh niên tên thường gọi là “Bự”. Qua điều tra, xác minh, không xác định được nhân thân của nam thanh niên tên “Bự” nêu trên, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

- Đối với bộ D sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo C khai nhận do ông Phạm Thành T1, sinh ngày 01/5/1998, nơi cư trú khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh cho bị cáo để sử dụng trái phép chất ma túy. Qua điều tra, đối chất không đủ cơ sở xử lý đối với ông T1.

- Đối với địa điểm mà bị cáo C sử dụng để tổ chức cho bị cáo S1 và Châu Vĩnh Đ sử dụng trái phép chất ma túy là căn phòng ngủ tại căn nhà của ông Trần Văn S, sinh năm 1967, nơi cư trú khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh là cha ruột bị cáo C. Tại thời điểm bị cáo C thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, ông S và các thành viên khác trong gia đình hoàn toàn không biết, do đã đi làm thuê nên không có căn cứ xem xét xử lý.

- Đối với bật lửa (hột quẹt) bị cáo S1 sử dụng để đốt đèn ga tự chế và bịch nhựa chưa chất ma túy mà bị cáo S1 xin từ bị cáo C. Qua qua trình làm việc với các bị cáo S1 và Đ trình bày, sau vụ việc xảy ra các đồ vật trên đã để lại trong khu vực căn nhà, không xác định được vị trí cụ thể. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được nên lập biên bản không tạm giữ được.

- Đối với bị cáo Ngô Minh S1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 17/5/2024, Công an huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng theo khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

- Đối với Châu Vĩnh Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 17/5/2024, Công an huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng theo khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Tại Cáo trạng số 60/CT-VKS-HS, ngày 18/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú truy tố bị cáo Trần Trung C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b, c, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và bị cáo Ngô Minh S1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Trung C, Ngô Minh S1 thừa nhận có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý với số người tham gia sử dụng trái phép chất ma túy, với vai trò, vị trí, thời gian, địa điểm đúng như cáo trạng đã truy tố.

Phần luận tội, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh, tính chất mức độ hành vi của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; vai trò, vị trí của từng bị cáo. Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố các bị cáo Trần Trung C và bị cáo Ngô Minh S1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;

Đề nghị áp dụng điểm a, b, c, h khoản 2, Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điều 17, 58, 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Trần Trung C từ 09 năm đến 10 năm tù.

Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 2, Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các điều 17, 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Ngô Minh S1 từ 07 năm đến 08 năm tù.

Việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu và tiêu huỷ 01 (một) ống thủy tinh (nỏ) không rõ hình dạng bị bể thành nhiều mảnh được để trong túi niêm phong số: 46/2024/M ghi ngày 26/01/2024; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: phần dưới bằng nhựa màu trắng, phần trên bằng nhựa trong suốt, bên trong có 03 (ba) hột xí ngầu màu hồng, 02 (hai) hột xí ngầu màu vàng và 01 (một) hột xí ngầu màu xanh, phía trên có gắn 01 (một) ống hút bằng nhựa màu trắng được niêm phong, để trong túi niêm phong ký hiệu NS3 mã số NS3 và 01 (một) đèn ga tự chế phần chứa khí ga làm bằng nhựa trong suốt (hình bật lửa) phần đáy màu đỏ, bên trong có chứa 02 viên xí ngầu màu đỏ; phần ngọn đèn làm bằng ống kim loại màu trắng. Được niêm phong, để trong túi niêm phong ký hiệu NS3 mã số NS3 1914278. Về án phí đề nghị buộc mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo không phát biểu tự bào chữa:

Bị cáo Ngô Minh S1 nói lời sau cùng: Xin giảm nhẹ hình phạt để về chăm sóc cha, mẹ già và làm lại cuộc đời.

Bị cáo Trần Trung C nói lời sau cùng: Bị cáo rất ăn năn, hối hận về việc làm của mình, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Căn cứ vào lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ chứng cứ xác định Khoảng 12 giờ ngày 22/01/2024 tại phòng ngủ của bị cáo Trần Trung C, địa chỉ khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh bị cáo Trần Trung C và bị cáo Ngô Minh S1 có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Châu Vĩnh Đ (là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi) thì bị bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm có 01 (một) ống thủy tinh (nỏ) không rõ hình dạng bị bể thành nhiều mảnh được để trong túi niêm phong số: 46/2024/M ghi ngày 26/01/2024; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy, gồm phần dưới bằng nhựa màu trắng, phần trên bằng nhựa trong suốt, bên trong có 03 (ba) hột xí ngầu màu hồng, 02 (hai) hột xí ngầu màu vàng và 01 (một) hột xí ngầu màu xanh, phía trên có gắn 01 (một) ống hút bằng nhựa màu trắng, được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS3 mã số NS3 1914201 có chữ ký của điều tra viên Trương Quốc K và Trần Trung C; 01 (một) đèn ga tự chế phần chứa khí ga làm bằng nhựa trong suốt (hình bật lửa) phần đáy màu đỏ, bên trong có chứa 02 viên xí ngầu màu đỏ; phần ngọn đèn làm bằng ống kim loại màu trắng, được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS3 mã số NS3 1914278.

[2] Xét thấy lời khai của các bị cáo Trần Trung C và bị cáo Ngô Minh S1 là phù hợp với nhau, phù hợp với hiện trường vụ án, phù hợp với thời gian bị cáo có mặt tại hiện trường vụ án, phù hợp với vật chứng thu giữ là các dụng cụ (trong đó có chất ma túy), phù hợp với lời khai của đối tượng Châu Vĩnh Đ. Hành vi của các bị cáo Trần Trung C và bị cáo Ngô Minh S1 đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

[3] Đối với bị cáo Trần Trung C: Ngày 22/01/2024 bị cáo C có hành vi dùng địa điểm là chỗ ở của mình quản lý sử dụng, cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy để tổ chức cho 02 người là bị cáo S1 và Đ sử dụng trái phép chất ma túy 02 lần. Ngày 25/02/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xử phạt 05 năm tù về tội tàng trữ sử dụng trái phép chất ma túy theo bản án số 04/2020/HSST, đến ngày 01/09/2023 bị cáo C đã chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa được xóa án tích mà tiếp tục tái phạm, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015 lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, hành vi của bị cáo C đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với các tình tiết định khung tăng nặng tương ứng với quy định tại điểm a, b, c, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Đối với bị cáo Ngô Minh S1: Ngoài việc bị cáo S1 trực tiếp sử dụng trái phép chất ma túy do bị cáo C tổ chức, bị cáo S1 còn có hành vi giúp sức bị cáo C tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý như xin ma túy của bị cáo C, cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy (đèn ga tự chế) và đốt nóng ma túy cho Châu Vĩnh Đ sử dụng trái phép chất ma túy cùng với bị cáo S1 02 lần. Do đó, hành vi của bị cáo Ngô Minh S1 đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Để góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội bảo vệ cuộc sống bình yên của người dân và của địa phương thì hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh theo pháp luật, cần thiết phải xử phạt các bị cáo mức án tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, nhằm để có đủ thời gian cho bị cáo nhận thức được việc làm sai trái của mình mà lao động, cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội đối với những hành vi tươngKhi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo C có ông bà ngoại có công với Tổ quốc; bị cáo S1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 (một) ống thủy tinh (nỏ) không rõ hình dạng bị bể thành nhiều mảnh được để trong túi niêm phong số: 46/2024/M ghi ngày 26/01/2024; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy, gồm phần dưới bằng nhựa màu trắng, phần trên bằng nhựa trong suốt, bên trong có 03 (ba) hột xí ngầu màu hồng, 02 (hai) hột xí ngầu màu vàng và 01 (một) hột xí ngầu màu xanh, phía trên có gắn 01 (một) ống hút bằng nhựa màu trắng, được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS3 mã số NS3 1914201 có chữ ký của điều tra viên Trương Quốc K và Trần Trung C; 01 (một) đèn ga tự chế phần chứa khí ga làm bằng nhựa trong suốt (hình bật lửa) phần đáy màu đỏ, bên trong có chứa 02 viên xí ngầu màu đỏ; phần ngọn đèn làm bằng ống kim loại màu trắng, được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu NS3 mã số NS3 1914278 là vật cấm lưu hành nên tịch thu và tiêu huỷ.

[7] Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì các bị cáo chịu trách nhiệm hình sự nên mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Hội đồng xét xử đã thẩm tra các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố và thấy rằng các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, những người bào chữa được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a, b, c, h, khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo Trần Trung C phạm tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Trần Trung C 09 (chín) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2024.

Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo Ngô Minh S1 phạm tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Ngô M1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2024.

Việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu và tiêu huỷ:

  • - 01 (một) ống thủy tinh (nỏ) không rõ hình dạng bị bể thành nhiều mảnh được để trong túi niêm phong số: 46/2024/M ghi ngày 26/01/2024 với dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M, Phan Vĩnh V1.
  • - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: phần dưới bằng nhựa màu trắng, phần trên bằng nhựa trong suốt, bên trong có 03 (ba) hột xí ngầu màu hồng, 02 (hai) hột xí ngầu màu vàng và 01 (một) hột xí ngầu màu xanh, phía trên có gắn 01 (một) ống hút bằng nhựa màu trắng. Được niêm phong, để trong túi niêm phong ký hiệu NS3 mã số NS3 1914201 có chữ ký của điều tra viên Trương Quốc K và Trần Trung C.
  • - 01 (một) đèn ga tự chế: phần chứa khí ga làm bằng nhựa trong suốt (hình bật lửa) phần đáy màu đỏ, bên trong có chứa 02 viên xí ngầu màu đỏ; phần ngọn đèn làm bằng ống kim loại màu trắng. Được niêm phong, để trong túi niêm phong ký hiệu NS3 mã số NS3 1914278 có chữ ký của điều tra viên Cao Minh T2 và Ngô Minh S1.

Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND huyện Trà Cú;
  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Trà Vinh;
  • - Cơ quan CSĐTCA huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan THAHSCA huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan THADS huyện Trà Cú;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Trà Cú;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Truyền

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thạch Tấn Thành

Sơn Ken

Nguyễn Văn Truyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 71/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Trug Chánh tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger