|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 71/2024/HS-ST Ngày 24/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Ánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hoàng Minh Tân;
- Bà Nguyễn Thị Anh Thư.
- Thư ký phiên tòa: Tại Điểm cầu trung tâm: Phòng xử án số 01 - Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi; tại Điểm cầu thành phần: Nhà Tạm giữ - Công an thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi: Bà Phan Thị Hạ Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thương Huyền - Kiểm sát viên.
Vào ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm: Phòng xử án số 01 - Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi và Điểm cầu thành phần: Nhà Tạm giữ - Công an thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 43/2024/HSST ngày 04/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐXXST-HS ngày 02/5/2024 đối với bị cáo:
Huỳnh Thanh T, sinh ngày 27 tháng 4 năm 1989; nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Huỳnh Văn T1 và bà Cao Thị C; bị cáo có vợ, có 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Ngày 28/10/2021, bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; nhân thân: Ngày 26/12/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 13/11/2019, bị Công an huyện T, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; ngày 19/01/2023, bị Công an xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; ngày 08/12/2023, bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/02/2024 đến nay; hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Q, có mặt.
- Bị hại:
- Bà Phạm Thị H2, sinh năm 1986; địa chỉ: Đ, thôn B, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
- Ông Trương Quang C1, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Thành V, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn A, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đinh Thị R, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.
- Ông Hứa Thành D, sinh năm 1990; địa chỉ: Đ, thôn A, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1.1] Vào các ngày 27/11/2023 và 18/12/2023, bị cáo Huỳnh Thanh T đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể:
- Vụ thứ nhất: Ông Trương Văn C2 là người sơn nhà cho ông Nguyễn Thành V tại địa chỉ Lô E LK04 Khu đô thị P, tổ G, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Khoảng 07 giờ ngày 27/11/2023, ông C2 đến nhà ông V làm việc. Tại đây, ông V đưa cho ông C2 số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) để mua vật liệu sơn nhà và trả tiền công, sau đó, ông V đi uống cà phê ở gần nhà. Ông C2 mua vật liệu sơn nhà hết số tiền 300.000 đồng, còn lại số tiền 1.700.000 đồng cất trong ví được để ở túi quần sau bên phải, đặt trên giường xếp ở tầng một. Sau đó, ông C2 đi lên tầng hai sơn nhà. Khoảng 09 giờ 17 phút cùng ngày, Huỳnh Thanh T điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 76P1-117.90 đến Khu đô thị P, khi đi ngang qua nhà ông V, T thấy cửa cổng mở, T dựng xe ngoài đường trước nhà ông V rồi đi vào cổng, không có người ở tầng một, T lục soát và mở ví lấy số tiền 1.700.000 đồng rồi bỏ lại ví trên giường xếp. Cùng lúc này, ông V xem camera an ninh, phát hiện có người đột nhập vào nhà, ông V gọi điện thoại báo cho ông C2 biết, sau đó, ông V chạy về nhà, ông C2 đi xuống tầng một kiểm tra ví phát hiện bị mất số tiền 1.700.000 đồng.
- Vụ thứ hai: Khoảng 09 giờ ngày 18/12/2023, bà Phạm Thị H2 để điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Xiaomi Redmi 9A, màu xanh dương, bên trong có gắn sim điện thoại mạng Viettel số thuê bao 0372.630.xxx trên bàn trong phòng khách nhà bà H2. Sau đó, bà H2 đi làm, khi đi bà H2 không đóng cửa nhà. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 76P1-117.90 đi từ nhà để đến nhà bà Đinh Thị R chơi. Khi đi ngang qua nhà bà H2, T thấy cửa mở, không có ai ở nhà nên nảy sinh ý định đột nhập vào nhà bà H2 trộm cắp tài sản, T điều khiển xe đi vào sân nhà bà H2 rồi đi vào phòng khách tìm kiếm tài sản và phát hiện thấy điện thoại di động của bà H2 đang để trên bàn, T lấy trộm điện thoại di động trên bỏ vào túi quần rồi điều khiển xe bỏ đi. Khi đi đến khu vực rừng cây keo ở xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, T dừng xe lại và lấy điện thoại ra xem rồi tháo sim điện thoại vứt bỏ. Sau đó, T đem bán điện thoại trên cho Cửa hàng điện thoại di động T ở thôn A, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi do ông Hứa Thành D làm chủ với giá 400.000 đồng. Khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày, bà H2 đi về nhà, phát hiện bị mất điện thoại di động nên đến Công an xã T trình báo sự việc.
[1.2] Tại Bản kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐG ngày 28/12/2023 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện S, kết luận như sau:
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 9A, màu Xanh dương, loại màn hình cảm ứng (đã qua sử dụng) có giá 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng).
- - 01 sim điện thoại di động vietttel (đã qua sử dụng) có giá trị 60.000 đồng (sáu mươi nghìn đồng).
[1.3] Đồ vật, tài liệu thu giữ:
- + 01 quần Jean dài màu xanh.
- + 01 áo khoác màu xanh – đen.
- + 01 mũ bảo hiểm màu đen.
- + 01 USB chứa dữ liệu tập tin video clip quay lại diễn biến sự việc bị cáo T vào nhà ông V trộm cắp tài sản của ông C2.
- + 01 xe mô tô, biển kiểm soát: 76P1-117.90, nhãn hiệu: Honda Wave Alpha, màu sơn: Đen bạc, số máy: JA39E2553462, số khung: RLHJA392NY056307 (đã qua sử dụng).
- + 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Xiaomi Redmi 9A, màu xanh dương, không có sim kèm theo (đã qua sử dụng). Qua xác minh, điện thoại này của bà Phạm Thị H2.
[2] Bản Cáo trạng số 47/CT-VKS-TPQN, ngày 02/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố bị cáo Huỳnh Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng điểm b Khoản 1 Điều 173, các điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51, các Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T từ 12 đến 18 tháng tù, tổng hợp với hình phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 31/2023/HSST ngày 08/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Quảng Ngãi, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án; về vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 (một) quần Jean dài màu xanh, 01 (một) áo khoác màu xanh đen, 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen; lưu hồ sơ vụ án 01 (một) USB chứa dữ liệu tập tin video ghi lại diễn biến sự việc bị cáo T vào nhà ông V trộm cắp tài sản của ông C2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã có hành vi lợi dụng sơ hở của bị hại, lén lút lấy trộm các tài sản của các bị hại. Theo Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thì điện thoại và sim mà bị cáo T trộm cắp của bà H2 có giá trị 860.000 đồng, như vậy tổng giá trị tài sản mà bị cáo T lấy trộm là 2.560.000 đồng. Tuy giá trị tài sản mỗi lần bị cáo T trộm cắp chưa đến 2.000.000 đồng, nhưng bị cáo T đã từng bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích mà tiếp tục trộm cắp. Do đó, hành vi của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tự nguyện nộp số tiền 1.700.000 đồng để trả lại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo có nhân thân xấu.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội. Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.
[5] Ngày 08/12/2023, bị cáo T bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 31/2023/HSST ngày 08/12/2023 đã có hiệu lực pháp luật, bị cáo chưa chấp hành án nên cần căn cứ Khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của Bản án số 31/2023/HSST ngày 08/12/2023, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án.
[6] Về phần dân sự: Ông Trương Văn C2 đã nhận lại số tiền 1.700.000 đồng, ông C2 không có yêu cầu gì về phần dân sự; bà Phạm Thị H2 đã nhận lại điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Xiaomi Redmi 9A, màu xanh dương, đối với sim điện thoại số thuê bao 0372.630.xxx gắn trong điện thoại di động bị cáo T vứt bỏ, bà H2 không có yêu cầu gì về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Ông Hứa Thành D đã nhận lại số tiền 400.000 đồng do bị cáo T hoàn trả, không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự của vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng:
[7.1] 01 quần Jean dài màu xanh, 01 áo khoác màu xanh đen, 01 mũ bảo hiểm màu đen là quần áo bị cáo T mặc khi trộm cắp tài sản, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[7.2] 01 USB chứa dữ liệu tập tin video clip quay lại diễn biến sự việc bị cáo T vào nhà ông V trộm cắp tài sản của ông C2, đây là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên được lưu kèm với hồ sơ vụ án.
[7.3] 01 xe mô tô, biển kiểm soát 76P1-117.90, nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen bạc, số máy: JA39E2553462, số khung: RLHJA392NY056307 (đã qua sử dụng), đây là xe của bà R cho bị cáo T mượn, không biết T sử dụng xe để trộm cắp tài sản, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Q đã trả lại xe cho bà R.
[7.4] 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Xiaomi Redmi 9A, màu xanh dương, không có sim kèm theo (đã qua sử dụng), Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà H2.
[8] Đối với ông Hứa Thành D kinh doanh dịch vụ mua bán điện thoại di động, không hứa hẹn trước với bị cáo T về việc trộm cắp điện thoại của bà H2, không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Q không xử lý ông D đồng phạm với T về tội “Trộm cắp tài sản”, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
[9] Về án phí: Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi về tội danh, hình phạt đối với bị cáo, phần dân sự, xử lý vật chứng có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các điểm b Khoản 1 Điều 173, các điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51; các Điều 38, 47, 50, Khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù;
Tổng hợp với hình phạt 09 (chín) tháng tù tại Bản án số 31/2023/HSST ngày 08/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Quảng Ngãi, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án là 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/02/2024.
3. Về xử lý vật chứng:
- [3.1] Lưu hồ sơ vụ án 01 (một) USB chứa dữ liệu tập tin video ghi lại diễn biến sự việc bị cáo T vào nhà ông V trộm cắp tài sản của ông C2.
- [3.2] Tịch thu tiêu hủy 01 (một) quần Jean dài màu xanh, 01 (một) áo khoác màu xanh đen, 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen (tất cả đã qua sử dụng), được niêm phong trong thùng giấy có chữ ký ghi họ tên Huỳnh Trần Ngọc V1, Nguyễn Công P, Huỳnh Thanh T, Trần Thị L và đóng dấu giáp lai của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q.
- (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi).
4. Bị cáo Huỳnh Thanh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Hồng Ánh |
Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 71/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo T trộm cắp tài sản nên bị truy tố
