|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 71/2024/HNGĐ-ST Ngày 23-8-2024 “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Mừng
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Triệu Đức Tươi
- 2. Bà Nguyễn Thị Nhung
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lưu Mạnh Hùng – Thẩm tra viên
Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa:
Bà Diệp Thị Hương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 373/2024/TLST-HNGĐ, ngày 03/7/2024 về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 06/8/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Đào Minh V, sinh năm 1986
Địa chỉ: Tổ A, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Chỗ ở hiện tại: Số nhà D, đường Đ, phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1982
Địa chỉ: Tổ A, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
(anh V có mặt, chị H vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ly hôn và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn anh Đào Minh Vương trình bày: Tôi và chị Nguyễn Thị Thúy H kết hôn năm 2020. Trước khi cưới có được tìm hiểu và lấy nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố T. Sau khi cưới vợ chồng về sống tại nhà riêng của chị H tại số nhà C đường C, tổ A, phường C, thành phố T. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc. Đến tháng 3/2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống không hợp nhau, vợ chồng chưa có nghề nghiệp ổn định, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Vợ chồng có xảy ra xô xát một vài lần. Đến tháng 5/2022 thì vợ chồng về sống cùng với bố mẹ đẻ chị H tại tổ A, phường C, thành phố T. Đến tháng 7/2022 thì vợ chồng sống ly thân do mâu thuẫn vợ chồng rất trầm trọng. Vợ chồng sống ly thân từ đó cho tới nay và đã chấm dứt mọi quan hệ. Đến nay, tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn với chị Nguyễn Thị Thúy H. Về con chung: Tôi và chị H có 01 con chung là Đào Thùy D, sinh ngày 22/9/2021. Khi ly hôn, tôi nhất trí để chị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đào Thùy D cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chúng tôi tự thoả thuận và không đề nghị Toà án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Lời khai của bị đơn chị Nguyễn Thị Thúy H trình bày: Tôi và anh Đào Minh Vương kết hôn năm 2020. Trước khi cưới có được tìm hiểu và lấy nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường C, thành phố T. Sau khi cưới vợ chồng về sống tại nhà riêng của tôi tại số nhà C đường C, tổ A, phường C, thành phố T. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc. Đến tháng 3/2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống không hợp nhau, vợ chồng chưa có nghề nghiệp ổn định, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Vợ chồng có xảy ra xô xát một vài lần. Đến tháng 5/2022 thì vợ chồng về sống cùng với bố mẹ đẻ tôi tại tổ A, phường C, thành phố T. Đến tháng 7/2022 thì vợ chồng sống ly thân do mâu thuẫn vợ chồng rất trầm trọng. Vợ chồng sống ly thân từ đó cho tới nay và đã chấm dứt mọi quan hệ. Đến nay, tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh V xin ly hôn tôi nhất trí thuận tình ly hôn. Về con chung: Tôi và anh V có 01 con chung là Đào Thùy D, sinh ngày 22/9/2021. Khi ly hôn, tôi có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đào Thùy D cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chúng tôi tự thoả thuận và không đề nghị Toà án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Quá trình giải quyết, Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tuy nhiên chị H vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt; anh V không rút đơn khởi kiện, do đó vụ án vụ án phải đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.
Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Đào Minh Vương vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn với chị Nguyễn Thị Thúy H. Về con chung: Anh V nhất trí để chị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đào Thùy D, sinh ngày 22/9/2021. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh V không đề nghị Toà án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: không có. Chị H vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đại diện Viện kiểm sát nhất trí và không ý kiến gì.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX: Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 143, 147, 227, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn của anh Đào Minh Vương.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Đào Minh Vương được ly hôn chị Nguyễn Thị Thúy H.
- Về nuôi con khi ly hôn: Giao con chung Đào Thùy D, sinh ngày 22/9/2021 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không đề nghị Toà án giải quyết. Anh V được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: HĐXX không xem xét.
Ngoài ra còn đề nghị về phần án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra, công bố công khai tại phiên tòa, nghe ý kiến của đương sự, của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo nội dung đơn khởi kiện anh Đào Minh Vương yêu cầu Toà án giải quyết về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn đối với chị Nguyễn Thị Thúy H. Chị Nguyễn Thị Thúy H có nơi cư trú tại tổ A, phường C, thành phố T. Căn cứ vào Điều 51, Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xác định đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”; Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
[2]. Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự tại phiên toà: Toà án mở phiên toà xét xử vụ án, nguyên đơn anh Đào Minh Vương có mặt; bị đơn chị Nguyễn Thị Thúy H vắng mặt và có đơn xin giải quyết vắng mặt, Tòa án căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H là đúng quy định của pháp luật.
[3]. Về nội dung vụ án:
[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa anh Đào Minh Vương và chị Nguyễn Thị Thúy H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu, lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận bảo vệ.
Quá trình chung sống giữa anh V và chị H nảy sinh mâu thuẫn. Phía anh V xác định đến năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có nghề nghiệp ổn định, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Phía chị H cũng xác định vợ xảy ra mâu thuẫn từ năm 2022, nguyên nhân là do vợ chồng sống không hợp nhau, vợ chồng chưa có nghề nghiệp ổn định, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Đến nay, anh V và chị H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn và nhất trí thuận tình ly hôn.
Theo Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định về Tình nghĩa vợ chồng:
- Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
- Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.
Hội đồng xét xử xét thấy mẫu thuẫn vợ chồng giữa anh V và chị H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, thực tế là anh chị đã có thời gian sống ly thân không còn quan tâm gì tới nhau và đã chấm dứt mọi quan hệ, do đó xét đề nghị xin ly hôn của anh V là có căn cứ cần áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận đề nghị của anh V, cho anh Đào Minh Vương được ly hôn chị Nguyễn Thị Thúy H là phù hợp.
[3.2]. Về nuôi con khi ly hôn: Anh V và chị H đều xác định vợ chồng có 01 con chung là Đào Thùy D, sinh ngày 22/9/2021. Quá trình giải quyết, chị H có nguyện vọng được nuôi con chung khi ly hôn, phía anh V cũng nhất trí để chị H trực tiếp nuôi con. HĐXX xét thấy cần giao cháu Đào Thùy D, sinh ngày 22/9/2021 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung: Anh V được quyền đi lại thăm nom chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung mà không ai được cản trở. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không đề nghị nên HĐXX không xem xét.
[3.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không đề nghị giải quyết, nên HĐXX không xem xét.
[4]. Về án phí: Yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn được chấp nhận, nhưng nguyên đơn anh Đào Minh Vương phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo mức án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.
[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 143, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng các Điều 8, 9, 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn của anh Đào Minh Vương.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Đào Minh Vương được ly hôn chị Nguyễn Thị Thúy H.
- Về nuôi con khi ly hôn: Giao con chung Đào Thùy D, sinh ngày 22/9/2021 cho chị Nguyễn Thị Thúy H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Về quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung khi ly hôn: Anh V được quyền đi lại thăm nom chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung mà không ai được cản trở. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không đề nghị Toà án giải quyết.
Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Khi xét thấy cần thiết hoặc do điều kiện sống có sự thay đổi, vợ chồng có thỏa thuận khác phù hợp với quy định pháp luật và vì lợi ích của con chung, các bên có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu hoặc thay đổi mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản, nợ chung: HĐXX không xem xét.
- Về án phí. Anh V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002988, ngày 03/7/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn anh Đào Minh Vương có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn chị Nguyễn Thị Thúy H vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Mừng |
Bản án số 71/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 71/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
