Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ G

TỈNH BẠC LIÊU


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 71/2023/HNGĐ - ST

Ngày 21/8/2023

Về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Liệt

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Mỹ Phượng và ông Nguyễn Thành Nhạn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Đèo, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên toà:

Ông Phạm Hoàng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã G, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 206/2023/TLST-HN ngày 24 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2023/QĐXX-ST ngày 17 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị G, sinh năm 1978 (có đơn vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu

Bị đơn: Anh Lâm Văn S, sinh năm 1979 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Huỳnh Thị G và anh Lâm Văn S chung sống vào năm 2005, có đăng ký kết hôn ngày 10/10/2008 tại UBND xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, hôn nhân trên tinh thần tự nguyện.

Nguyên nhân ly hôn do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cự cải và xích mích dẫn đến mâu thuẫn ngày càng lớn, cả hai người không giúp đỡ nhau để cùng tiến bộ, mỗi người sống cho riêng mình, không ai quan tâm đến ai.

Nay xét thấy tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Huỳnh Thị G yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Lâm Tấn K, sinh ngày 05/10/2006 và Lâm Khánh B, sinh ngày 02/9/2009 hiện nay 02 con đang sống với chị Huỳnh Thị G, chị G trình bày việc giải quyết giao con cho ai nuôi tùy theo nguyện vọng của con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu xem xét, giải quyết.

Anh Lâm Văn S vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến ngày xét xử, nên không ghi nhận được ý kiến của anh Lâm Văn S, đối với yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Thị G.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến và đề nghị:

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị xử cho chị Huỳnh Thị G được ly hôn anh Lâm Văn S.

Về con chung: Giao Lâm Tấn K và Lâm Khánh B và cho chị Huỳnh Thị G tiếp tục nuôi, không đặt ra việc cấp dưỡng cho con, anh Lâm Văn S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai.

Chị Huỳnh Thị G có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Lâm Văn S được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị G và anh Lâm Văn S chung sống vào năm 2005, có đăng ký kết hôn ngày 10/10/2008 tại UBND xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, hôn nhân trên tinh thần tự nguyện.

Nguyên nhân ly hôn do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cự cải và xích mích dẫn đến mâu thuẫn ngày càng lớn, cả hai người không giúp đỡ nhau để cùng tiến bộ, mỗi người sống cho riêng mình, không ai quan tâm đến ai, căn cứ vào biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 10/7/2023 cho thấy, anh Lâm Văn S có địa chỉ cư trú tại ấp A, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, anh S đi làm ăn, cũng thường xuyên đi về địa phương, nhưng không cùng chung sống với chị G là vi phạm Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét thấy, hôn nhân của chị G và anh S lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Huỳnh Thị G yêu cầu ly hôn là phù hợp, căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cho chị Huỳnh Thị G ly hôn anh Lâm Văn S.

[3] Về con chung: Qua làm việc với con chị G và anh S là Lâm Khánh B và Lâm Tấn K; nguyện vọng của Lâm Khánh B là sống với chị G, nguyện vọng của Lâm Tấn K là sống với anh S. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân gia và gia đình có căn cứ giao Lâm Khánh Băng cho chị Huỳnh Thị G tiếp tục nuôi, đối với Lâm Tấn K có nguyện vọng sống với anh S. Tuy nhiên, anh S không có mặt tại địa phương, nếu giao con cho anh S nuôi sẽ không đảm bảo về việc nuôi con, mặt khác chị G đang nuôi con, nghĩ nên giao Lâm Tấn K cho chị Huỳnh Thị G tiếp tục nuôi là phù hợp; chị G không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên không xem xét, giải quyết; anh Lâm Văn S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Huỳnh Thị G không yêu cầu, anh Lâm Văn S vắng mặt, không ghi nhận được ý kiến nên không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH chị Huỳnh Thị G1 chịu theo quy định của pháp luật.

Những phân tích, nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như phân tích, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 19; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[2] Về hôn nhân: Xử cho chị Huỳnh Thị G ly hôn anh Lâm Văn S.

[3] Về con chung: Giao Lâm Tấn K và Lâm Khánh B cho chị Huỳnh Thị G tiếp tục chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; không đặt ra việc cấp dưỡng cho con; anh Lâm Văn S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Huỳnh Thị G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền: 300.000 đồng, chị Huỳnh Thị G đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền: 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0014649 ngày 24 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã G được chuyển thu án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thị xã G;
  • - Chi cục THADS thị xã G;
  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - UBND xã T;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tất Liệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2023/HNGĐ - ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 71/2023/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ G, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA Gam - Su
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger