Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐĂNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 71/2024/HSST

Ngày: 24/7/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh;

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hòa;

- Ông Trần Huệ,

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Toản - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 64/2024/HSST ngày 25 tháng 6 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST – HS ngày 12 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Nông Văn H, sinh năm 1986, tại tỉnh Lạng Sơn.

Căn cước công dân số: [...]

Nơi cư trú: Thôn H, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.

Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn D và bà Mỗ Thị T; bị cáo có vợ và 01 người con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/4/2024 đến nay (có mặt).

- Bị hại: Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm 1990, (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 14/4/2024, Nông Văn H đến nhà nghỉ “Hồng Khảnh” thuộc thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước thuê phòng nghỉ trưa. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, H trả phòng để đi về nhà, khi ra đến nhà xe của nhà nghỉ, thì H phát hiện có 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám, biển kiểm soát 93L1-420.97 của chị Nguyễn Thị Kiều O có sẵn chìa khóa trên ổ khóa điện, không có người trông coi, nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt xe. Sau đó, H ngồi lên xe mô tô, nổ máy điều khiển đi về nhà trọ ở tại khu Đ, thị trấn Đ, huyện B do ông Trần Quang Q làm chủ. Ngày 16/4/2024, H đã đến Công an xã T đầu thú, giao nộp 01 xe mô tô biển kiểm soát 93L1-420.97. Công an xã T lập hồ sơ chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B điều tra, xử lý theo luật định.

- Tại Kết luận định giá tài sản số 19/KL-ĐG ngày 19/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám, biển kiểm soát 93L1-420.97 tại thời điểm phạm tội có giá trị là 8.500.000 đồng.

- Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám, biển kiểm soát 93L1-420.97 cho chị Nguyễn Thị Kiều O.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì nên không đề cập.

Tại Cáo trạng số 69/CT –VKS.BĐ ngày 25/6/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Nông Văn H về Tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm Tội trộm cắp tài sản.

Về hình phạt, áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điểu 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Đề nghị xử phạt bị cáo Nông Văn H từ 06 đến 09 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng

Bị cáo Nông Văn H đã thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng; bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 14/4/2024, Nông Văn H đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám, biển kiểm soát 93L1-420.97 có giá trị 8.500.000 đồng của chị Nguyễn Thị Kiều O tại thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại về thời gian, địa điểm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Nông Văn H đã phạm vào Tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội hai bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, chỉ vì lười lao động nhưng lại muốn có tiền tiêu xài. Bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác, đây là quyền về tài sản được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra, hành vi của bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo đã ra đầu thú; bị cáo có con còn nhỏ, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét toàn bộ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xám, biển kiểm soát 93L1-420.97 cho chị Nguyễn Thị Kiều O.

Vật chứng đã được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo có con còn nhỏ nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nông Văn H phạm Tội trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nông Văn H 09 tháng tù (chín tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2024.

[2] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nông Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương, nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Bình Phước.
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Công an tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Bù Đăng;
  • - CCTHADS huyện Bù Đăng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Khắc Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HSST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự sơ thẩm (tội trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 71/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nông Văn H pham tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger