TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 71/2024/HS-ST Ngày 21-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Chum.
Thẩm phán: Ông Hoàng Huy Toàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Ly.
Ông Hồ Hữu Nam.
Bà Từ Thị Nga.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Hồng Thái – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Trần Tấn Lập - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2022, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Đào Văn P, sinh năm 1979, tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: D, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nơi tạm trú: chung cư A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: kế toán, trình độ văn hóa (học vấn): lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào C và bà Đoàn Thị P1; có vợ là bà Bùi Thị Mai C1 và can có 03 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền sự: không; tiền án: không; nhân thân: không. Ngày 30/10/2020, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D khởi tố vụ án về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Ngày 02/6/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B Quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án từ tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản sang tội Tham ô tài sản. Ngày 02/6/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm và tuyên phạt bị cáo 15 năm tù về tội Tham ô tài sản (theo Bản án số 80/2022/HS-ST), sau đó bị cáo kháng cáo. Ngày 07/11/2022, Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tuyên hủy Bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại (theo Bản án hình sự phúc thẩm số 827/2022/HS-PT ngày 07/11/2022). Ngày 24/3/2023, bị cáo bị bắt tạm giam để điều tra cho đến nay, bị cáo có mặt.
2
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Đào Văn P: ông Cao Quang T là Luật sư của Văn phòng L1 – Đoàn Luật sư tỉnh B, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Nguyên đơn dân sự: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T5; địa chỉ trụ sở: ấp K, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1970, hộ khẩu thường trú: số F, đường T, Phường G, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền:
- Ông Nguyễn Trung T2, sinh năm 1994, có mặt.
- Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1992, có mặt.
(Theo văn bản ủy quyền số 02/2024/3FF ngày 19 tháng 6 năm 2024)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Hoàng T3 sinh năm 1984; nơi cư trú: khu phố B, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1987; nơi cư trú: thôn K, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Lê Hùng C2; vắng mặt.
- Bà Lê Thị Yến N; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Lê Minh H; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Mỹ L; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Nguyễn Phước H1; vắng mặt.
- Ông Vũ Tô H2; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 có trụ sở ở ấp K, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1970, nơi cư trú: số F, đường T, Phường G, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngành nghề kinh doanh của Công ty là thực phẩm tươi sống và đông lạnh. Ngày 01/01/2020, Công ty ký hợp đồng lao động với Đào Văn P, cùng ngày, Công ty ban hành quyết định bổ nhiệm kế toán trưởng số 01 đối với P và do thời điểm này, Công ty chưa có thủ quỹ (do thủ quỹ cũ là chị Lê Thị Yến N nghỉ việc từ ngày 31/12/2019), nên P được Công ty giao nhiệm vụ thủ quỹ từ này 01/01/2020. Số tiền mặt kết quỹ chuyển giao từ chị N qua P là 27.785.000 (hai mươi bảy triệu, bảy trăm tám mươi lăm nghìn) đồng.
Về quy trình hoạt động thu, chi của Công ty và nhiệm vụ của P:
3
Phòng kinh doanh của Công ty T5 đặt trụ sở ở số A, đường T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, do bà Nguyễn Thị T4 làm Trưởng phòng. Hàng ngày, phòng kinh doanh sẽ tiếp nhận đơn hàng từ khách hàng, rồi kiểm tra thông tin khách hàng, số lượng, giá cả các mặt hàng theo đơn và nhập thông tin lên phần mềm “Misa” (phần mềm quản lý bán hàng, sau bán hàng và kế toán của Công ty T5), chuyển về Công ty ở huyện D, tỉnh Bình Dương. Sau đó, kế toán bán hàng là ông Lê Hùng C2 sẽ soạn đơn hàng theo yêu cầu từ phòng kinh doanh rồi in phiếu xuất kho, giao cho bộ phận quản lý kho để xuất kho. Sau khi hàng hóa xuất kho, được giao cho các tài xế đi giao cho khách hàng. Khách hàng thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản cho Công ty. Anh C2 sẽ nhận tiền mặt từ các tài xế đem về hoặc nếu khách hàng mua hàng trực tiếp tại Công ty thì anh C2 sẽ nhận tiền rồi tập hợp toàn bộ tiền giao cho kế toán công ty là bà Lê Minh H hoặc bà Nguyễn Thị Mỹ L. Bà H, bà L sẽ kiểm tra, đối chiếu hàng hóa xuất kho và tiền thu về, nếu khớp với nhau thì sẽ nhập toàn bộ thông tin lên phần mềm “Misa”, rồi in phiếu thu. Sau đó, tất cả tiền, chứng từ được giao lại cho P, P sẽ kiểm tra, đối chiếu rồi ký nhận ở mục kế toán trưởng vào phiếu thu rồi P sẽ nộp toàn bộ tiền vào tài khoản của Công ty mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần S hoặc Ngân hàng Thương mại cổ phần N1. Tuy nhiên, mỗi lần nộp tiền thì P giữ lại từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Ngoài hoạt động thu, P cũng là người duyệt và ký xác nhận đối những hoạt động chi của Công ty.
Ngày 04/5/2020, Ban giám đốc Công ty cử Kế toán trưởng Công ty T5, chi nhánh Đ là ông Nguyễn Phước H1 và Giám đốc tài chính Công ty T5 là ông Vũ Tô H2 kiểm tra hoạt động kế toán, thu, chi tại Công ty. Ông H1, ông H2 xác định số tiền mặt tồn quỹ đến thời điểm kiểm tra là 8.310.000 (tám triệu ba trăm mười nghìn) đồng. Số tiền này không khớp với báo cáo thu, chi của P. Qua làm việc, P thừa nhận đã nhiều lần lấy tiền của Công ty để tiêu xài cá nhân. Hành vi của P được ông H2, ông H1 lập biên bản và trình báo cơ quan Công an.
Qua điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B xác định:
Số tiền mặt kết quỹ chuyển giao từ bà Lê Thị Yến N cho P là 27.785.000 đồng.
Số tiền mặt tồn quỹ đến thời điểm P bị kiểm tra là 8.310.000 đồng
Trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2020 đến ngày 30/4/2020, P trực tiếp ký xác nhận vào 319 phiếu thu và thu với tổng số tiền 5.677.224.365 (năm tỷ sáu trăm bảy mươi bảy triệu hai trăm hai mươi bốn nghìn ba trăm sáu lăm) đồng.
Ngoài ra, có 91 phiếu thu (trong khoảng thời gian từ ngày 14/4/2020 đến ngày 30/4/2020), không có chữ ký xác nhận thu của P, tương ứng với số tiền 1.722.129.227 (một tỷ bảy trăm hai mươi hai triệu một trăm hai mươi chín nghìn hai trăm hai mươi bảy) đồng do không có chữ ký xác nhận của P nên P không thừa nhận. Tuy nhiên, cũng trong khoảng thời gian trên P đã 04 lần nộp tiền vào tài khoản của Công ty mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần S với tổng số tiền 1.301.400.000 (một tỷ ba trăm linh một triệu bốn trăm nghìn) đồng. P thừa nhận số tiền trên có được từ việc thu bán hàng từ ngày 14/4/2020 đến ngày 30/4/2020.
Như vậy, tổng số tiền kết quỹ chuyển giao từ chị N cho P, số tiền P thu từ 319 phiếu thu có chữ ký của P và số tiền 1.301.400.000 đồng mà P nộp vào tài
4
khoản Ngân hàng Thương mại cổ phần S trong trong khoảng thời gian từ ngày 14/4/2020 đến ngày 30/4/2020 là 7.006.409.365 đồng.
Về hoạt động chi, qua điều tra xác định: trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2020 đến ngày 30/4/2020, P đã thực chi số tiền 6.095.522.000 đồng, thông qua 134 phiếu chi có hóa đơn chứng từ chứng minh (bao gồm số tiền mặt tồn quỹ đến thời điểm P bị kiểm tra là 8.310.000 đồng).
Vậy, số tiền mà P chiếm đoạt của công ty T5 từ ngày 01/01/2020 đến ngày 30/4/2020 là 910.887.000 (chín trăm mười triệu tám trăm tám mươi bảy triệu) đồng.
Ngày 02/3/2021, P đã nộp lại số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng để khắc phục hậu quả cho Công ty (nộp vào tài khoản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B).
Tại Cáo trạng số: 77/CT-VKSBD.P1 ngày 01/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố Đào Văn P về “Tội tham ô tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 353 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó có nội dung: giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Đào Văn P về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 353 Bộ luật Hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo hết sức nguy hiểm. Bởi lẽ, bản thân bị cáo được giao nhiệm vụ là kế toán trưởng, kiêm thủ quỹ của công ty. Ở nhiệm vụ này, bị cáo càng phải thể hiện sự trung thực và rõ ràng trong nghiệp vụ kế toán, và thủ quỹ nhưng do tham lam, bị cáo lợi dụng nhiệm vụ quản lý, thu chi tài chính công ty và sự quản lý buông lỏng của ban lãnh đạo nên đã tham ô số tiền 910.887.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử cần tuyên một bản án có mức án nghiêm để bị cáo thấy được tính nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường số tiền 300.000.000 đồng cho công ty. Điều này thể hiện ý chí tích cực khắc phục hậu quả do bị cáo gây ra và hiện nay bị cáo đang nuôi 03 con đang tuổi ăn học. Từ những căn cứ nên trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 353; điểm b, s khoản 1, 2 điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 của Bộ luật Hình sự tuyên phạt bị cáo Đào Văn P mức án từ 10 năm đến 12 năm tù. Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc tiếp tục bồi thường cho Công ty T5 số tiền 610.887.000 đồng.
Người bào chữa cho bị cáo Đào Văn P vắng mặt tại phiên tòa gửi bài bào chữa có nội dung: đồng tình với cáo trạng Viện kiểm sát truy tố về tội danh, về khung hình phạt áp dụng với bị cáo. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả theo theo quy định điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ những tình tiết giảm nhẹ nêu trên, cùng với việc bị cáo P là người có
5
nhân thân tốt, tôi đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự xem xét quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà cáo trạng truy tố để cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật và sớm trở về xã hội đê làm lại cuộc đời.
Bị cáo không tranh luận.
Nguyên đơn dân sự không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, nguyên đơn dân sự, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Đào Văn P khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với bị cáo. Hành vi của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: bị cáo Đào Văn P làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn T5 (gọi tắt là Công ty) có trụ sở tại ấp K, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương. Trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2020 đến ngày 30/4/2020, bị cáo Đào Văn P đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao là kế toán trưởng và thủ quỹ Công ty T5 chi nhánh B1 chiếm đoạt số tiền 910.887.000 (chín trăm mười triệu tám trăm tám mươi bảy triệu) đồng của Công ty do bị cáo P có trách nhiệm quản lý để tiêu xài cá nhân. Hành vi của Đào Văn P đã phạm vào tội “Tham ô tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 353 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo P về “Tội tham ô tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 353 của Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.
[3] Tội phạm bị cáo thực hiện là đặc biệt nghiêm trọng, làm thiệt hại về tài sản của Công ty và ảnh hưởng tiêu cực đến trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cần xét xử nghiêm để răn đe bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để có hình phạt tương xứng mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: thành khẩn khai
6
báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường, khắc phục một phần thiệt hại cho nguyên đơn dân sự; nguyên đơn dân sự xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có cha là ông Đào C là người có công với cách mạng (theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự).
[6] Đối với bà Nguyễn Thị Mỹ L là kế toán của Công ty T5 là người trực tiếp lập phiếu chi PC00918 ngày 21/02/2020 và phiếu chi PC00969 ngày 08/4/2020 lên trên phần mềm Misa theo yêu cầu của bị cáo Đào Văn P. Quá trình điều tra xác định tại thời điểm Đào Văn P chỉ đạo lập 02 phiếu chi trên bị cáo P không đưa ra thông tin đây là 02 phiếu chi khống, bà Nguyễn Thị Mỹ L không biết đây là 02 phiếu chi khống nên vẫn thực hiện theo yêu cầu của bị cáo P. Hành vi của bà Nguyễn Thị Mỹ L không đồng phạm giúp sức cho bị cáo Đào Văn P. Do đó, hành vi của bà Nguyễn Thị Mỹ L không đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản”.
[7] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là phù hợp, có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Đào Văn P là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp: bị cáo chiếm đoạt số tiền 910.887.000 đồng, bị cáo đã bồi thường cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn T5 300.000.000 đồng (thể hiện tại Ủy nhiệm chi mẫu số 16c1, ký hiệu: C4-02a/NS lập ngày 17/01/2022), còn lại 610.887.000 đồng, buộc bị cáo P bồi thường cho nguyên đơn dân sự là Công ty Trách nhiệm hữu hạn T5.
[10] Xử lý vật chứng:
Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương chuyển vật chứng (02 USB) tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/01/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B với Cục thi hành án tỉnh Bình Dương đến Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương để lưu giữ trong hồ sơ vụ án này.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng của bị cáo P nộp khắc phục hậu quả tại Ủy nhiệm chi mẫu số 16c1, ký hiệu: C4-02a/NS lập ngày 17/01/2022.
[11] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Đào Văn P phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
7
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Đào Văn P phạm tội “Tham ô tài sản”.
- Về áp dụng điều luật và hình phạt:
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 353; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đào Văn P 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/3/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584 của Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Đào Văn P bồi thường cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn T5 số tiền 610.887.000 đồng (sáu trăm mười triệu tám trăm tám mươi bảy triệu đồng).
Tạm giữ số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng do bị cáo Đào Văn P nộp để khắc phục hậu quả theo Ủy nhiệm chi mẫu số 16c1, ký hiệu: C4-02a/NS lập ngày 17/01/2022 để đảm bảo việc thi hành án.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về xử lý vật chứng:
Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương chuyển vật chứng (02 USB) tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/01/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B với Cục thi hành án tỉnh Bình Dương đến Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương để lưu giữ trong hồ sơ, gồm:
01 bì thư được niêm phong, bên ngoài có chữ “3F VIET FOOR; Chuẩn từ chất – Thật từ tâm”, có chữ ký của ông Nguyễn Nhứt Á – Điều tra viên, ông Nguyễn Tự B và có hình dấu tròn đỏ của Công ty TNHH T5, theo biên bản niêm phong ngày 30/10/2020 tại ấp K, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương.
01 bì thư được niêm phong, bên ngoài có chữ “3F VIET FOOR; Chuẩn từ chất – Thật từ tâm”, có chữ ký của Điều tra viên Nguyễn Ngọc D, người chứng kiến Lê Thị Yến N và có hình dấu tròn đỏ của Công ty TNHH T5, theo biên bản niêm phong ngày 14/4/2021 tại Công ty TNHH T5, ấp K, xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương.
- Về án phí sơ thẩm:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Đào Văn P phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 28.435.480 đồng (hai mươi tám triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn bốn trăm tám mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, nguyên đơn dân sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp pháp.
8
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Chum |
9
Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tham ô tài sản (embezzlement of property)
- Số bản án: 71/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Embezzlement of property)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Văn P phạm tội Tham ô tài sản
