|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15-AN GIANG TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 71/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 21 - 11 - 2025
“Về việc tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15-AN GIANG, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Sang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Văn Ức;
- Ông Nguyễn Thành Lil;
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Tấn Bửu là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15-An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15-An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15-An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 214/2025/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Trần Thị M, sinh năm 1970; địa chỉ: tổ A, ấp T, xã T, tỉnh An Giang (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: ông Võ Văn G, sinh năm 1967; địa chỉ: tổ A, ấp T, xã T, tỉnh An Giang (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Trần Thị M trình bày:
- Về hôn nhân: bà Trần Thị M và ông Võ Văn G sống chung với nhau vào khoảng năm 1986-1987 (không xác định thời gian chính xác, cụ thể), hôn nhân tự tìm hiểu, không có tổ chức lễ cưới và không đăng ký kết hôn.
Cuộc sống chung của vợ chồng có hạnh phúc nhưng đến khoảng đầu năm 2000 thì xảy ra mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống nên thường cãi vã dẫn đến cuộc sống chung của vợ chồng không còn hạnh phúc và không còn chung sống từ đó cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà M yêu cầu được ly hôn với ông Võ Văn G.
- Về con chung: Trong thời gian sống chung, bà M và ông G có hai con chung tên: Võ Văn T, sinh năm 1988 và Võ Văn H, sinh năm 1990, tất cả đã trưởng thành và lao động được, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Võ Văn G trình bày:
- Về hôn nhân: Ông G thống nhất với lời trình bày của bà Trần Thị M về điều kiện, thời gian kết hôn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, ông với bà M sống chung không có đăng ký kết hôn và đã không còn chung sống từ năm 2000 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông đồng ý ly hôn với bà Trần Thị M.
- Về con chung: Ông với bà M có hai con chung tên: Võ Văn T, sinh năm 1988 và Võ Văn H, sinh năm 1990, tất cả đã trưởng thành và lao động được, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống, ông với bà M không có tạo lập được tài sản chung và cũng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang:
Phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan từ giai đoạn thụ lý cho đến khi giải quyết vụ án. Việc chấp hành pháp luật của người tham giam gia tố tụng từ giai đoạn thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định. Các đương sự cùng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố:
Về hôn nhân: không công nhận bà Trần Thị M và ông Võ Văn G là vợ chồng.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết.
Về án phí: bà Trần Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết:
bà Trần Thị M khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Võ Văn G có đăng ký cư trú tại: ấp T, xã T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 15-An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hòa giải đối thoại tại Tòa án.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:
nguyên đơn bà Trần Thị M và bị đơn ông Võ Văn G cùng có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân:
bà Trần Thị M và ông Võ Văn G sống chung với nhau vào khoảng năm 1986-1987, hôn nhân do tự tìm hiểu, không có tổ chức lễ cưới và cũng không có đăng ký kết hôn.
Cuộc sống chung của vợ chồng có hạnh phúc đến khoảng năm 2000 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường hay xảy ra cãi vả, cuộc sống chung của vợ chồng ngày càng không có hạnh phúc. Bà M và ông G cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn.
Xét thấy, bà Trần Thị M và ông Võ Văn G sống chung không có đăng ký kết hôn, lời khai của bà M và ông G1 phù hợp với biên bản trả lời xác minh tình trạng hôn nhân ngày 11/11/2025 của Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh An Giang. Bà M và ông G sống chung nhưng không đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, do đó căn cứ Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị M và ông Võ Văn G là có căn cứ.
[2.2] Về con chung:
Bà Trần Thị M và ông Võ Văn G cùng xác định trong thời gian sống chung có hai con chung tên: Võ Văn T, sinh năm 1988 và Võ Văn H, sinh năm 1990, tất cả đã trưởng thành và lao động được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung:
bà Trần Thị M và ông Võ Văn G cùng xác định trong thời gian chung sống không có tạo lập được tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí:
bà Trần Thị M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
[4] Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa về giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thi M1 và ông Võ Văn G.
- Về án phí: bà Trần Thị M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006325 ngày 27 tháng 8 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
- Về quyền kháng cáo: bà Trần Thi M1 và ông Võ Văn G có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Sang |
Bản án số 71/2025/HNGĐ-ST ngày 21/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15-AN GIANG, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 71/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15-AN GIANG, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thi Mè và ông Võ Văn Gom. 2. Về án phí: bà Trần Thị Mè phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006325 ngày 27 tháng 8 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
