|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:71/2025/HS-ST
Ngày 04/4/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mạnh Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Tư.
- Bà Hoàng Thị Hồng.
Thư ký phiên toà: Ông Lê Hoàng Tùng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Vũ Hồng Sơn - Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/HSST-QĐ ngày 07/3/2025 đối với bị cáo Vừ Sân N, sinh năm 2005; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Bản H, xã P, huyện T, tỉnh Sơn La; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: H'Mông; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Công nhân; văn hóa: 12/12; con ông Vừ Cảng S, sinh năm 1979 và bà Ly Thị D, sinh năm 1982; gia đình có có 03 chị em, bị cáo là con thứ 2; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại.
(Có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại:
Anh Vừ A C, sinh năm 2006 (Đã chết)
Địa chỉ: Bản H, xã P, huyện T, tỉnh Sơn La.
Người đại diện hợp pháp: Anh Vừ A N1, sinh năm 1988
Địa chỉ: Bản H, xã P, huyện T, tỉnh Sơn La.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Vừ A L, sinh năm 2002
- Địa chỉ: Bản L, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La.
- - Anh Vừ A P, sinh năm 2002
- Địa chỉ: Bản H, xã P, huyện T, tỉnh Sơn La.
- - Chị Vì Thị M, sinh năm 2000
- Địa chỉ: Bản C, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La.
- - Anh Và A P1, sinh năm 2003
- Địa chỉ: Bản T, xã P, huyện T, tỉnh Sơn La.
* Người làm chứng:
- - Chị Vừ Thị B, sinh năm 2001
- Địa chỉ: Bản C, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La.
(Đại diện bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diên biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vừ Sân Ny, sinh năm 2005, trú tại bản Hua Ngáy, xã P, huyện T, tỉnh Sơn La không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Vừ Sân N thuê trọ tại thôn S, xã N, huyện Y (nay là phường N, thành phố B), tỉnh Bắc Giang để làm công nhân tại Khu công nghiệp V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
Buổi sáng ngày 04/8/2024, Vừ Sân N rủ anh Vừ A C, sinh năm 2006, trú cùng bản (thuê trọ ở phòng bên cạnh) đi sang phòng trọ của anh Vừ A P, sinh năm 2002 ở thôn G, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang để ăn uống. Khoảng 10 giờ 45 phút cùng ngày, Vừ Sân N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCTIER biển kiểm soát 36B5- 601.38 chở anh C đi sang phòng trọ của anh Vừ A P. Tại đây, Vừ Sân N, anh Vừ A C, anh Vừ A P và chị Vừ Thị N2, sinh năm 2006, trú tại bản Po Mậu, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La (là bạn gái anh P) cùng nhau ăn cơm, uống bia. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày sau khi ăn uống xong, Vừ Sân N điều khiển xe mô tô chở anh Vừ A C đi về phòng trọ của mình. Khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày, Vừ Sân N tiếp tục điều khiển xe mô tô 36B5- 601.38 chở anh C đến phòng trọ của anh Vừ A P rồi cùng nhau ăn uống.
Khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, Vừ Sân N điều khiển xe mô tô BKS 36B5- 601.38 chở anh Vừ A C đi từ phòng trọ của anh Vừ A P theo đường bê tông liên thôn ra Quốc lộ C, hướng từ thôn G, xã N đi thôn N, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang để đi đá bóng. Khi Vừ Sân N điều khiển xe đi đến khu vực ngã tư Quốc lộ C thuộc địa phận thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giao nhau với đường liên thôn và có đặt hệ thống đèn tín hiệu giao thông và biển báo "Giao nhau với đường không ưu tiên", bên phải đi vào thôn T, xã N, huyện Y và biển báo hiệu giao thông "chỗ quay đầu xe" đi sang làn đường ngược chiều Quốc lộ C và đường giao nhau với đường không ưu tiên đi thôn N, xã N, huyện Y ở hướng đi làn đường ngược chiều. Do không chú ý quan sát, không chấp hành biển báo hiệu đường bộ và vượt xe sai quy định nên xe mô tô do Vừ Sân Ny điều khiển đã đâm vào để chân trước bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 26M1- 288.35 do chị Vì Thị M, sinh năm 2000, trú tại bản Chống Khoa, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La điều khiển chở cháu Vừ Ngọc D1, sinh năm 2019 (là con trai chị M) và chị Vừ Thị B, sinh năm 2001, trú tại bản Co Mạ, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La đang di chuyển phía trước, sang đường theo hướng từ phải qua trái.
Hậu quả làm anh Vừ A C bị chết tại chỗ; chị Vì Thị M bị thương đưa đi điều trị Bệnh viện đa khoa Anh Q cơ sở hai ngày 06/8/2024 với thương tích chấn thương ngực, đùi trái, gối trái; Vừ Sân Ny bị thương đi Bệnh viện Đ điều trị từ ngày 04/8/2024 đến 15/8/2024 với thương tích: Gãy hở độ III a xương bàn IV, V chân (P), (T01) đa vết thương phần mềm vùng chẩm, vùng trán, vai phải sau tai nạn giao thông; 02 xe mô tô bị hư hỏng.
Kết quả đo nồng độ cồn trong hơi thở của Vừ Sân Ny ngày 04/8/2024 là 0,435mg/l (BL 239- 240), nồng độ cồn trong máu của Vừ A C ngày 05/8/2024 là 80,914mg/100ml.
Tại Công văn số 2549 ngày 20/8/2024 của Sở Giao thông vận tải tỉnh S xác định Vừ Sân N không có giấy phép lái xe mô tô.
*Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường khám nghiệm theo hướng từ thị xã V đi huyện Y, lấy mép đường bên phải làm chuẩn, lấy cột điện ký hiệu “TP6/NH” được cắm đặt trên lề đường phải làm điểm mốc.
Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại khu vực ngã tư Quốc lộ C thuộc địa phận thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Đây là đoạn đường thẳng, mặt đường được trải nhựa áp phan phẳng, rộng 26,9m. Ở giữa đường có dải phân cách cứng rộng 6,1m, cao 0,26m chia đường thành hai chiều xe chạy riêng biệt. Tại khu vực nơi xảy ra tai nạn, dải phân cách cứng bị ngắt quãng rộng 25,7m; mỗi đầu của dải phân cách được cắm đặt biển báo hiệu giao thông “Đường một chiều cấm đi ngược chiều”.
Lề đường bên phải Quốc lộ C theo hướng từ thị xã V đi huyện Y có đường nhánh đi vào thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, rộng 9,3m. Lề đường bên trái Quốc lộ C theo hướng từ thị xã V đi huyện Y có đường nhánh đi vào thôn N, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, rộng 8,3m.
Chiều đường xảy ra tai nạn là chiều đường bên phải theo hướng thị xã V đi huyện Y, mặt đường rộng 10,3m; ở giữa đường có vạch sơn màu trắng dạng đứt quãng, chia đường thành hai làn xe chạy không riêng biệt.
Trên lề đường bên phải, cách khu vực nơi xảy ra tai nạn 45m về phía thị xã V có cắm đặt 01 biển báo hiệu giao thông “Giao nhau với đường không ưu tiên”. Trên lề đường bên phải, trước khu vực nơi xảy ra tai nạn về phía thị xã V có cắm đặt hệ thống đèn tín hiệu giao thông và biển báo hiệu giao thông “Chỗ quay đầu xe".
Tại thời điểm khám nghiệm, hệ thống đèn chiếu sáng của đường hoạt động bình thường, hệ thống đèn tín hiệu giao thông không hoạt động, khu vực xảy ra tai nạn không có hệ thống camera.
- Trên mặt đường ở làn đường bên trái theo chiều khám nghiệm phát hiện 01 dấu vết cày xước mặt đường, dạng liền, chiều hướng chếch chéo từ thị xã V đi vào đường nhánh đi thôn N, xã N, huyện Y, kích thước (0,3 x 0,005)m, ký hiệu số (1). Điểm đầu dấu vết số (1) cách điểm chuẩn và điểm mốc lần lượt là 9,7m và 13,9m. Điểm cuối dấu vết số (1) cách điểm chuẩn là 9,9m.
- Trên mặt đường, ở làn đường bên trái theo chiều khám nghiệm phát hiện 01 dấu vết trà xước mặt đường, dạng đứt quãng, chiều hướng từ thị xã V đi huyện Y, kích thước (12,25 x 0,73 x 0,01)m, ký hiệu số (2). Điểm đầu dấu vết số (2) cách điểm chuẩn và điểm đầu dấu vết số (1) lần lượt là 7,8m và 5,3m. Điểm cuối dấu vết số (2) kết thúc tại đầu giá để chân phía sau bên phải xe mô tô biển kiểm soát 26M1- 288.35 và cách điểm chuẩn là 7,4m.
- Trên mặt đường, ở làn đường bên trái theo chiều khám nghiệm phát hiện 01 dấu vết trà xước mặt đường, dạng đứt quãng, chiều hướng chếch chéo và vòng cung, kích thước (18,4 x 0,8 x 0,01)m, ký hiệu số (3). Điểm đầu dấu vết số (3) cách điểm chuẩn và điểm đầu dấu vết số (2) lần lượt là 9,4m và 10,45m. Điểm cuối dấu vết số (3) cách điểm chuẩn là 6,5m.
- Trên mặt đường, ở mặt đường bên trái theo chiều khám nghiệm phát hiện Xe mô tô biển kiểm soát 26M1-288.35 trong trạng thái đổ nghiêng bên phải, đầu xe hướng huyện Y, đuôi xe hướng thị xã V, hệ thống đèn xi nhan bên trái phía sau đuôi xe đang hoạt động, sáng nhấp nháy màu vàng, ký hiệu số (4). T trục bánh trước và tâm trục bánh sau bên trái của xe mô tô cách điểm chuẩn lần lượt là 7,3m và 7,5m. T trục bánh sau bên trái của xe mô tô cách điểm đầu dấu vết số (3) là 5,2m.
- Phát hiện tại mặt ngoài phía bên phải dải phân cách cứng theo chiều khám nghiệm 01 dấu vết trà sát, vỡ khuyết bê tông trên diện kích thước (0,3 x 0,11)m, điểm thấp nhất cách đất 0,18m, ký hiệu số (5). T dấu vết số (5) cách tâm trục bánh trước bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 26M1- 288.35 là 4,62m.
- Trên mặt đường ở chiều đường bên phải theo chiều khám nghiệm phát hiện đám mảnh nhựa vỡ, thanh kim loại, găng tay, dép trên diện kích thước (37,1 x 10,3)m, ký hiệu số (6). T dấu vết số (6) cách điểm chuẩn là 5,15m.
- Trên mặt đường, ở làn đường bên trái theo chiều khám nghiệm phát hiện tử thi được xác định là anh Vừ A C trong tư thế nằm nghiêng bên trái, đầu tử thi hướng thị xã V, chân tử thi hướng huyện Y, ký hiệu số (7). Đỉnh đầu tử thi cách điểm chuẩn và trục bánh trước bên trái xe mô tô biển kiểm soát 26M1-288.35 lần lượt là 6,65m và 5,65m. Gót chân trái tử thi cách điểm chuẩn là 7,3m.
- Trên mặt đường ở chiều đường bên phải theo chiều khám nghiệm phát hiện 01 dấu vết máu dạng loang, đông đặc, bắn tóe trên diện kích thước (5 x 3,7)m, ký hiệu số (8). T dấu vết máu cách điểm chuẩn và đầu tử thi lần lượt là 7,84m và 1,85m.
Trên mặt đường ở chiều đường bên phải theo chiều khám nghiệm phát hiện Xe mô tô biển kiểm soát 36B5- 601.38 trong trạng thái đổ nghiêng bên trái, nằm chếch chéo đường, đầu xe hướng cánh đồng thôn T, xã N, huyện Y, đuôi xe hướng đường nhánh đi thôn N, xã N, huyện Y, ký hiệu số (9). T trục bánh trước bên phải và tâm trục bánh sau bên phải của xe mô tô cách điểm chuẩn lần lượt là 5,65m và 6,7m. T trục bánh trước bên phải và tâm trục bánh sau bên phải của xe mô tô cách điểm mốc lần lượt là 28,65m và 28,2m.
- Trên mặt đường ở chiều đường bên phải theo chiều khám nghiệm phát hiện 01 dấu vết máu dạng loang, bắn tóe trên diện kích thước (2,4 x 2,3)m, ký hiệu số (10). T dấu vết máu cách điểm chuẩn và tâm trục bánh trước bên phải xe mô tô biển kiểm soát 36B5-601.38 lần lượt là 6,8m và 5,0m.
* Khám tử thi Vừ A C:
Khám bên ngoài: Vùng trán đỉnh thái dương hai bên có diện sây sát, rách da, kích thước (20 x 11)cm. Sống mũi có diện sây sát da, bầm tím, kích thước (4,5 x 2)cm. Vùng cằm và cổ có diện sây sát da, kích thước (8 x 7)cm. Mặt trước ngoài cánh tay và cẳng tay trái có diện sây sát da, mất lớp thượng bì, kích thước (20 x 8)cm. Mặt trước trong gối phải có diện sây sát, bầm tím, kích thước (10 x 4)cm. Mặt sau cẳng chân phải có diện sây sát da, kích thước (11 x 3)cm. Gót chân phải có vết rách da, kích thước (2,5 x 1)cm. Mặt trước cẳng chân trái có diện sây sát da, kích thước (11 x 5)cm. Mặt mu bàn chân trái có diện sây sát da, kích thước (15 x 3)cm. Vùng lưng phải có diện mài sát da, mất lớp thượng bì, kích thước (27 x 16)cm. Vùng lưng trái có diện màu sát da, mất lớp thượng bì, kích thước (40 x 8)cm. Vùng mông trái có diện mài sát da, mất lớp thượng bì, kích thước (16 x 15)cm. Vùng mông phải có diện sây sát da, bầm tím, kích thước (16 x 11)cm. Xương hộp sọ sập vỡ, biến dạng phức tạp.
Mổ tử thi: Giải phẫu tổn thương rách da vùng đỉnh trán thấy dập rách da và tổ chức dưới da, bờ mép vết rách nham nhở, qua đó để lộ xương hộp sọ vỡ thành nhiều mảng, dập nát tổ chức não thoát ra bên ngoài.
Khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 36B5-601.38, nhãn hiệu YAMAHA, loại EXCTIER, màu sơn xám đen:
Tấm nhựa ốp đầu xe bị long bật, vỡ khuyết nhựa trên diện kích thước (46 x 10)cm. Phần đầu chính diện ốp nhựa đầu xe để lại vết mài sát, trà xước nhựa trên diện (7,5 x 1)cm. Tay côn bên trái bị gãy, hướng từ trước về sau, từ trên xuống dưới. Cụm đèn chiếu sáng phía trước bị long bật khỏi vị trí cố định. Mặt lăn bên phải của lốp trước để lại vết mài sát cao su trên diện (35 x 3)cm, điểm đầu và điểm cuối dấu vết cách chân van lần lượt là 36cm và 45cm. Cạnh vành xe trước bên phải bị cong vênh, vỡ khuyết kim loại, kích thước (46 x 0,5)cm. Đầu trục càng xe trước bên phải để lại vết mài sát kim loại trên diện (1,5 x 0,5)cm. Đầu tay phanh bên phải để lại vết mài sát sơn, kim loai trên diện (1,5 x 1)cm. Chân phanh bên phải bị đẩy theo hướng từ trước về sau, bề mặt để lại vết trà sát kim loại, kích thước (5 x 1,5)cm. Mặt ngoài lốc máy bên phải để lại vết mài sát sơn, kim loại, bề mặt bám dính chất màu trắng trên diện (12 x 6)cm. Ốp nhựa bên phải sườn xe bị long bật khỏi vị trí cố định, bề mặt để lại vết mài sát sơn nhựa trên diện kích thước (6 x 3)cm. Giá để chân phía trước bên phải bị cong vênh theo hướng từ trước về sau; cạnh dưới phía trước để lại vết mài sát kim loại trên diện (9,5 x 1,5)cm. Tấm nhựa bảo vệ ống xả bên phải để lại vết trà xước trên diện (29 x 4)cm. Đầu ống xả kim loại bên phải để lại vết mài xước kim loại trên diện (12 x 5,5)cm. Tay xách phía sau bị vỡ khuyết. Yên xe bị long bật, đuôi yên xe bị rách da trên diện (22 x 20)cm. Tấm nhựa gắn biển số 36B5-601.38 bị vỡ khuyết, rời khỏi vị trí cố định.
Ngoài ra còn một số dấu vết khác thể hiện trong bản khám xe riêng (BL 109- 110).
Khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 26M1-28835, nhãn hiệu HONDA, loại AIRBLADE, màu sơn xanh đen:
Ốp nhựa ở bên trái đầu xe để lại vết xước sơn, kích thước (3 x 0,5)cm. Đầu tay nắm bên trái để lại vết trà sát nhựa trên diện (2 x 1,5)cm. Đầu tay phanh bên trái để lại vết mài xước kim loại, kích thước (1,5 x 1)cm. Mặt nạ, cụm đèn chiếu sáng phía trước, cánh yếm bên trái bị vỡ khuyết nhựa, bật rời khỏi vị trí cố định trên diện (60 x 50)cm. Đầu ốp trục càng bánh trước bên trái bị vỡ khuyết kim loại, dài 7cm. Phía trên ốp trục càng bánh trước bên trái có diện mài sát sơn, kích thước (11 x 1)cm. Giá để chân trước bên trái bị cong vênh, mài sát kim loại theo chiều từ dưới lên trên, long bật khỏi vị trí cố định trên diện (50 x 10)cm. Tại vị trí cong vênh để lại dấu vết vỡ, mài sát kim loại trên diện (20 x 2)cm. Ốp nhựa phía dưới giá để chân bên trái bị vỡ, long bật trên diện (65 x 3)cm. Giá để chân phía sau bên trái bị đẩy biến dạng theo chiều từ sau ra trước. Trên mặt sau giá để chân này để lại vết mài sát kim loại, kích thước (7,5 x 1)cm, bề mặt bám dính chất màu nâu đỏ (nghi máu). Mặt dưới giá để chân phía sau bên trái để lại vết mài sát cao su, chiều hướng từ sau ra trước, kích thước (11 x 2)cm. Ốp nhựa tiếp giáp trên giá để chân sau bên trái để lại vết mài xước nhựa, kích thước (15 x 7)cm. Ốp bảo vệ máy bên trái để lại vết mài sát, bong tróc sơn, kim loại trên diện (5 x 1,5)cm. T1 kim loại bên trái của chân trống giữa để lại vết mài sát kim loại trên diện (14 x 1)cm. Giá để chân phía trước bên phải để lại dấu vết mài sát kim loại, bong tróc sơn trên diện (43 x 2)cm.
Ngoài ra còn một số dấu vết khác thể hiện trong bản khám xe riêng.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định để xác định nguyên nhân chết của anh Vừ A C; tỷ lệ thương tích của chị Vì Thị M.
Kết luận giám định tử thi số 1909/KLGĐTT-KTHS ngày 04/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
Nguyên nhân chết của Vừ A C do chấn thương sọ não: Sập, vỡ phức tạp xương hộp sọ và dập nát tổ chức não.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2716/24/KLTTCT-TTPY ngày 06/11/2024 của Trung tâm Pháp y –Sở Y tế tỉnh B kết luận:
Tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị Vì Thị M tại thời điểm giám định là 15%.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định xác định cơ chế hình thành dấu vết, vị trí va chạm trên đường và tốc độ hai xe mô tô trong vụ tai nạn giao thông.
Kết luận giám định số 2162/KL-KTHS ngày 10/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
"1. Dấu vết mài trượt cao su, chùn cong kim loại, hướng từ mặt lăn vào tâm trục ở mặt lăn lốp và vành bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 36B5-601.38 (ảnh 31, 32, 33, 34 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết chùn cong kim loại, trượt xước sơn nhựa, bám dính chất màu đen, hướng từ trái sang phải, từ sau ra trước ở để chân trước bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 26M1-288.35 (ảnh 13 bản ảnh khám phương tiện). Đây là dấu vết va chạm đầu tiên trên hai phương tiện.
Dấu vết lõm, trượt xước kim loại, hướng từ trước ra sau ở đầu ốc bên phải trục bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 36B5-601.38 (ảnh 29, 30 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết vỡ khuyết, trượt xước kim loại, hướng từ sau ra trước ở đầu dưới giảm sóc trước bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 26M1-288.35 (ảnh 10, 11, 12 bản ảnh khám phương tiện).
- Dấu vết lõm, trượt xước mất nhựa, hướng từ trước ra sau ở mặt ngoài ống xả của xe mô tô biển kiểm soát 36B5-601.38 (ảnh 19, 20 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết chùn cong, trượt xước kim loại, bám dính chất màu đen, hướng từ sau ra trước ở mặt dưới để chân sau bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 26M1-288.35 (ảnh 14 bản ảnh khám phương tiện).
2. Dấu vết trượt xước cao su, gãy khuyết kim loại, bám dính chất bột màu trắng, hướng từ trên xuống dưới ở tay xách sau và mặt yên của xe mô tô biển kiểm soát 36B5-601.38 (khi phương tiện trong tư thế đổ nghiêng trái, ảnh số 21, 32 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết trượt xước, vỡ khuyết bê tông tại dải phân cách cứng ký hiệu số 5 trên hiện trường (ảnh số 21, 22 bản ảnh khám nghiệm hiện trường).
3. Dấu vết cày xước mặt đường ký hiệu số 2 phù hợp với quá trình sau va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 26M1-288.35 đổ nghiêng phải, văng trượt trên mặt đường tạo nên.
Dấu vết cày xước mặt đường ký hiệu số 3 phù hợp với quá trình sau va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 36B5-601.38 đổ nghiêng trái, văng trượt trên mặt đường tạo nên.
4. Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 26M1-288.35 và xe mô tô biển kiểm soát 36B5-601.38 trên mặt đường, tại trước điểm đầu hệ thống dấu vết cày xước ký hiệu số 2 và số 3, thuộc chiều phương tiện chuyển động bên phải theo hướng thị xã V đi huyện Y.
5. Căn cứ dấu vết va chạm trên hai phương tiện và hiện trường xác định, tại thời điểm xảy ra va chạm xe mô tô biển kiểm soát 36B5-601.38 chuyển động theo hướng thị xã V đi huyện Y va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 26M1-288.35 ở phía trước cùng chiều (đầu xe mô tô biển kiểm soát 26M1-288.35 chếch hướng sang mép đường trái theo hướng khám nghiệm).
6. Không xác định được tại thời điểm xảy ra tai nạn, xe mô tô biển kiểm soát 36B5-601.38 và xe mô tô biển kiểm soát 26M1-288.35 có va chạm với phương tiện khác hay không, do sau va chạm các chi tiết nhựa, kim loại trên hai phương tiện bị vỡ khuyết, chùn cong, biến dạng.
7. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua các dấu vết cơ học".
Cơ quan điều tra trưng cầu giám định 02 file video trích xuất tại Camera khu nhà xe của phòng trọ của gia đình ông Dương Văn H, sinh năm 1984 ở thôn G, xã N, huyện Y ghi lại hình ảnh Vừ Săn N điều khiển xe mô tô 36B5-601.38 chở anh Vừ A C ngồi sau.
Kết luận giám định số 2406 ngày 13/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 file video được lưu trữ trong đĩa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y-R gửi giám định: File video có tên "5983781408234.mp4", dung lượng 9.63MB, thời lượng 01 phút 31 giây; File video có tên "5983781606467.mp4", dung lượng 15.3MB, thời lượng 02 phút 24 giây.
Ngày 05/8/2024, Cơ quan điều tra tiến hành trích xuất 20 ảnh từ 02 đoạn video trên. Ngày 07/9/2024 cho bị can Vừ S1 Ny nhận dạng ảnh bị can Ny khẳng định người điều khiển xe mô tô 36B5-601.38 từ khu nhà để xe của ông Dương Văn H chính là bị can, còn người ngồi sau là anh Vừ A C.
Cơ quan điều tra yêu cầu định giá thiệt hại của 02 xe mô tô. Kết luận định giá tài sản số 73/KL-HĐĐGTS ngày 21/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận giá trị thiệt hại của xe mô tô biển kiểm soát 36B5-601.38 là 9.180.000 đồng; xe mô tô biển kiểm soát 26M1-288.35 là 4.840.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị can Vừ Sân N đã bồi thường cho gia đình Vừ A C tổng số tiền 5.000.000 đồng. Ông Vừ A N1 (bố đẻ Vừ A C) là đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 26M1-288.35: Quá trình điều tra xác định là của anh V A L, sinh năm 2002, trú tại bản Chống Khoa, xã C, huyện T, tỉnh Sơn La (là chồng chị M). Sau sự việc xảy ra, xe mô tô bị hư hỏng, thiệt hại 4.840.000 đồng, chị M bị thương tích 15% sức khỏe đến nay đã bình phục, còn chị B và cháu D1 bị thương tích nhẹ đã khỏi nên đều không yêu cầu Vừ Sân Ny bồi thường gì và có đơn xin giảm nhẹ cho bị can. Ngày 15/11/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho anh L.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 36B5- 601.38: Quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Và A P1, sinh năm 2003, trú tại bản Tịa Tậu, xã P, huyện T, tỉnh Sơn La bạn cùng phòng trọ với Vừ Sân N; khi N lấy xe mô tô đi và chở anh Vừ A C thì anh P1 không biết nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý về hành vi "Giao cho người không đủ điều kiện phương tiện tham gia giao thông đường bộ". Ngày 15/11/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho anh P1. Quá trình điều tra bị can N đã bồi thường cho anh P1 25.000.000 đồng, anh P1 không yêu cầu bồi thường thêm.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận hành vi như nêu trên.
Bản Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 07/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi của mình như bản Cáo trạng đã nêu.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, bị cáo không có ý kiến gì về những lời khai này.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ Điều 292; Điều 293; Điều 331; Điều 333; khoản 1 Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; diểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về tội danh và hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Vừ Sân N 03 năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.
2. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí với bản luận tội của Kiểm sát viên và không có tranh luận gì.
Trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố B và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
[2] Về sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đều vắng mặt, nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt là phù hợp quy định tại Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi của bị cáo theo cáo trạng truy tố: Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng tại Cơ quan điều tra; phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, đủ cơ sở kết luận: Vừ Sân N không có Giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Ngày 04/8/2024, Vừ Sân N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCTIER biển kiểm soát 36B5-601.38 chở anh Vừ A C đi đến phòng trọ của anh Vừ A P ở thôn G, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang để ăn cơm và uống bia.
Khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, Vừ Sân N điều khiển xe mô tô BKS 36B5- 601.38 chở anh Vừ A C đi trên Quốc lộ C đến khu vực ngã tư Quốc lộ C thuộc địa phận thôn T, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giao nhau với đường liên thôn đi thôn T và thôn N, xã N, do không chú ý quan sát, không chấp hành biển báo hiệu đường bộ, điều khiển xe mô tô khi trong người có nồng độ cồn trong hơi thở là 0,435mg/l, vượt xe sai quy định nên xe mô tô Vừ Sân Ny điều khiển đã đâm vào để chân trước bên trái xe mô tô biển kiểm soát 26M1- 288.35 do chị V1 Thị Máy điều khiển đi phía trước cùng chiều, chở cháu Vừ Ngọc D1 là con trai chị M và chị Vừ Thị B. Hậu quả làm anh Vừ A C bị chết, chị V1 thì M bị thương tích 15%.
Hành vi của Vừ Sân N đã vi phạm khoản 8, 9 Điều 8, khoản 1 Điều 11, Điều 12, khoản 2, 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ và Điều 5 Thông tư số 31 ngày 29/8/2019 của Bộ G, đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ.
[4.] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm những quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tình mạng, sức khỏe, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân khi tham gia giao thông cũng như ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh xã hội. Khi tham gia giao thông bị cáo điều khiển xe mô tô khi trong người có nồng độ cồn trong hơi thở, vượt xe sai quy định gây ra tai nạn giao thông, hậu quả làm làm anh Vừ A C bị chết, chị V1 thì M bị thương tích.
[5] Xét về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa bị Tòa án nào xét xử về tội gì, chưa bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nào xử lý hành chính.
[6] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[7] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại và được đại diện hợp pháp của bị hại đã đề nghị giảm nhẹ hình phạt. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo Vừ Sân N đã bồi thường cho gia đình Vừ A C tổng số tiền 5.000.000 đồng. Ông Vừ A N1 (bố đẻ Vừ A C) là đại diện hợp pháp của người bị hại không yêu cầu bồi thường thêm. Bị cáo N đã bồi thường cho anh P1 25.000.000 đồng. Đến nay, đại diện hợp pháp của bị hại và những người cơ quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự. Do vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về trách nhiệm dân sự trong vụ án.
[9] Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã trả lại toàn bộ các vật chứng trong vụ án, không đương sự nào có yêu cầu gì về các vật chứng nêu trên nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét về vật chứng.
[10] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp với quy định tại diểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQD14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[11] Ngoài ra cần áp dụng quy định tại Điều 331, Điều 333, khoản 1 Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo, kháng nghị.
[12] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với các bị cáo và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp, có căn cứ nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
Căn cứ Điều 292; Điều 293; Điều 331; Điều 333; khoản 1 Điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự; diểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về tội danh và hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Vừ Sân N 03 năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.
2. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đại diện hợp pháp của bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
5. Hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Mạnh Thắng |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Bắc Giang;
- - VKSND tỉnh Bắc Giang;
- - VKSND thành phố Bắc Giang;
- - Chi cục THADS thành phố Bắc Giang;
- - Bị cáo; những người tham gia tố tụng;
- - Phòng Hồ sơ và Cơ quan cảnh sát điều tra
- Công an tỉnh Bắc Giang;
- - UBND xã/phường nơi cư trú bị cáo;
- - Lưu HS, VP.
Bản án số 71/2025/HS-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 71/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ny. VPQĐTG Giao thông đường bộ
