Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 71/2025/HS-ST

Ngày: 03-4-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Ninh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Khắc Tiệp

Bà Trần Thị Nhung

Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Thái Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2025; đối với bị cáo:

Họ và tên: Vì Thị T1, sinh năm 1986 ở huyện B, tỉnh Sơn La; nơi thường trú: Bản P, xã P, huyện B, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú hiện nay: Số A T, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vì Văn C và bà Đò Thị B; Bị cáo có chồng là Vì Văn L (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2007 và 01 con sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 16-12-2024; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đặng Thị Anh T – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (Có mặt).

- Người làm chứng:

  • + Ông Đinh Việt D (Vắng mặt).
  • + Ông Nguyễn Văn C1 (Vắng mặt).
  • + Bà Nguyễn Thị H (Vắng mặt).
  • + Ông Trần Minh Đ (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 20 phút, ngày 13-12-2024, Đinh Việt D sinh năm 1986, trú tại 1 đường T, phường C, thành phố N và Nguyễn Văn C1 sinh năm 1989, trú tại xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định rủ nhau tìm gái bán dâm để mua dâm. Biết Vì Thị T1 là gái bán dâm nên D sử dụng tài khoản Zalo của mình là “Vết X” nhắn tin tới tài khoản Zalo của T1 có tên là “Thuy Van” đặt vấn đề mua dâm với T1 và bảo T1 tìm thêm 01 gái bán dâm để bán dâm cho C1. T1 đồng ý rồi sử dụng tài khoản Zalo của mình nhắn tin đến tài khoản Z có tên “Nguyễn Thị N” của Nguyễn Thị H, sinh năm 1988, trú tại ngõ A đường B, phường L, thành phố N rủ H đi bán dâm, H đồng ý. Thiềm và H thống nhất giá bán dâm là 400.000 đồng. Sau đó T1 báo cho D đến nhà nghỉ V, số B đường B, phường L, thành phố N để mua bán dâm.

Khoảng 14 giờ 27 phút cùng ngày, D và C1 đến nhà nghỉ V thuê phòng 103 và phòng 104 rồi D nhắn số phòng cho T1 biết. Khoảng 14 giờ 50 phút cùng ngày, T1 và H đến nhà nghỉ V, T1 lên phòng 103, H lên phòng 104. Tại phòng 103, D đưa cho T1 500.000 đồng, trong đó 400.000 đồng tiền bán dâm và 100.000 đồng tiền môi giới mại dâm. Sau đó D, T1 tự cởi quần áo và quan hệ tình dục với nhau. Tại phòng 104, C1 đưa cho H 400.000 đồng rồi cả hai quan hệ tình dục với nhau.

Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, tổ công tác Công an thành phố N kiểm tra nhà nghỉ V phát hiện, bắt quả tang tại phòng 103 D và T1 đang thực hiện mua bán dâm, tại phòng 104 C1 và H đang thực hiện mua bán dâm.

Các vật chứng đã thu giữ bao gồm: Thu giữ tại phòng 103 một vỏ bao cao su nhãn hiệu Mingliu, màu xanh, đã bị xé rách và số tiền 400.000 đồng H khai là tiền công bán dâm nhận của C1; thu giữ của T1 số tiền 500.000 đồng mà T1 khai 400.000 đồng là tiền công bán dâm, 100.000 đồng là tiền Thiềm môi giới H bán dâm, 01 chiếc điện thoại di động Oppo A5s màu đen, IMEI 1: 865222048456317; IMEI 2: 865222048456309 (là phương tiện mà T1 đã sử dụng để liên lạc với D và H). Tất cả vật chứng được niêm phong và quản lý theo quy định của pháp luật.

2

Tại cơ quan điều tra, Vì Thị T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Cáo trạng số 59/CT-VKS- TPNĐ ngày 27-02-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định đã truy tố Vì Thị T1 về tội “Môi giới mại dâm” quy định tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Vì Thị T1 khai nhận hành vi môi giới mại dâm của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 328; điểm i, n, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo phạm tội “Môi giới mại dâm”; xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu huỷ một vỏ bao cao su nhãn hiệu Mingliu, màu xanh, đã bị xé rách; Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 900.000 đồng (400.000 đồng thu giữ của H, 500.000 đồng thu giữ của T1) + 01 chiếc điện thoại di động Oppo A5s màu đen, IMEI 1: 865222048456317; IMEI 2: 865222048456309; về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát; Bị cáo là người dân tộc, sống ở vùng kinh tế khó khăn, không có học vấn, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị Toà án áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử đưa ra mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

Bị cáo Vì Thị T1 nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

3

[1] Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 13-12-2024; vật chứng của vụ án; lời khai của bị cáo, người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 15 giờ, ngày 13-12-2024, Vì Thị T1 đã làm trung gian môi giới để Nguyễn Thị H bán dâm cho Nguyễn Văn C1 tại phòng 104 nhà nghỉ V ở địa chỉ số B đường B, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định và được hưởng 100.000 đồng tiền công môi giới thì bị tổ công tác Công an thành phố N kiểm tra nhà nghỉ V phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại tới an toàn, trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội; bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Như vậy, bị cáo đã phạm tội “Môi giới mại dâm”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật Hình sự. Do đó, quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo: Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, mại dâm là một trong những tệ nạn xã hội gây nên tình trạng lây lan nhiều căn bệnh xã hội, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc. Do đó, phải buộc bị cáo chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình; cần phải áp dụng loại hình phạt cũng như mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng, đồng thời cũng là để răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.

- Về nhân thân: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa thể hiện thì trước lần phạm tội này bị cáo chưa có vi phạm pháp luật gì, lần phạm tội này của bị cáo là lần đầu.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

4

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là phụ nữ có thai; bị cáo là người dân tộc sinh sống tại vùng kinh tế điều kiện khó khăn nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, n, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Đường lối xử lý về hành vi phạm tội của các bị cáo:

- Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như động cơ mục đích phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy, bị cáo là người có đầy đủ nhận thức, hoàn thiện về mặt thể chất, có sức khoẻ nhưng ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo kém; bị cáo nhận thức được hành vi mua bán dâm là vi phạm pháp luật nhưng vẫn chọn đó là công việc chính để kiếm tiền và thậm chí còn môi giới cho người khác mua bán dâm để kiếm lời. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới cải tạo, giáo dục bị cáo nhận thức được sai phạm của mình để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời để răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền 900.000 đồng bị thu giữ: Đây là số tiền H và T1 thu được do thực hiện hành vi trái pháp luật mà có nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động Oppo A5s màu đen, IMEI 1: 865222048456317; IMEI 2: 865222048456309: Đây là chiếc điện thoại Thiềm sử dụng liên lạc với D và H nên xác định là phương tiện phạm tội và bị tịch thu bán hoá giá sung ngân sách Nhà nước là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Đối với một vỏ bao cao su nhãn hiệu Mingliu, màu xanh, đã bị xé rách: Đây là vật chứng vụ án, không còn giá trị sử dụng, do đó tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định của pháp luật.

[6] Về các vấn đề khác trong vụ án:

- Đối với hành vi mua dâm của Đinh Việt D, Nguyễn Văn C1 và hành vi bán dâm của Nguyễn Thị H, Vì Thị T1, Công an thành phố N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp với quy định của pháp luật.

5

- Ông Trần Minh Đ, sinh năm 1969, trú tại E N, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định là nhân viên lễ tân được chủ nhà nghỉ V giao quyền quản lý và trông coi nhưng đã không thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý an ninh, trật tự đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện nên Công an thành phố N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Ông Trần Văn P, sinh năm 1961, trú 2 đường B, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định là chủ nhà nghỉ V không liên quan đến hành vi phạm tội của Vì Thị T1 nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vì Thị T1 bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 328; điểm i, n, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Tuyên bố bị cáo Vì Thị T1 phạm tội “Môi giới mại dâm”.
  2. Xử phạt bị cáo Vì Thị T1 09 tháng (Chín tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án (Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam).

  3. Xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) vỏ bao cao su nhãn hiệu Mingliu, màu xanh, đã bị xé rách.
    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 900.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động Oppo A5s màu đen, IMEI 1: 865222048456317; IMEI 2: 865222048456309.
  4. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Vì Thị T1 phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Vì Thị T1 được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND Thành phố + tỉnh;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nam Định;
  • - Phòng PV 27 Công an tỉnh NĐ;
  • - UBND phường Lộc Vượng;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP Tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hải Ninh

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (môi giới mại dâm)

  • Số bản án: 71/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Môi giới mại dâm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thiềm môi giới mại dâm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger