Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN P

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2025/HSST

Ngày 21/03/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bạc Thị Liên

Các hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Hoàng Thị Thái
  • 2. Bà Lò Thị Hiêng

Thư ký phiên toà: Ông Bùi Minh Thắng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đ

- Đại diện VKSND Thành Phố Đ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 21/03/2025 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành Phố Đ, tỉnh Điện Biên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 71/2025/HSST ngày 22/01/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:74/2025/QĐXX-HS ngày 07/03/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn N. Tên gọi khác: Không có tên gọi khác

Sinh năm 1973. Tại tỉnh Điện Biên.

Nơi ĐKTT và chỗ ở: B1, xã M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 1/12; Con ông: Lò Văn N (đã chết); con bà: Quàng Thị B; gia đình bị cáo có 14 anh em ruột, bị cáo là con thứ tám; Vợ thứ nhất; Cà Thị H (đã ly hôn ); Vợ thứ 2: Lò Thị Ơ (đã ly thân); bị cáo có 02 con: Tiền án: Có 01 tiền án. Cụ thể; Ngày 28/08/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Đ xử 16 tháng tù về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" ngày 23/8/2024 chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương bản án này đến nay chưa xóa án tích; Tiên sự: Không;Nhân thân: Ngày 13/07/1999 bị TAND tỉnh L xử phạt 08 năm tù về tội: "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 28/9/2007 đã chấp hành xong toàn bộ bản án. Bản án này đã xóa án tích.

Bị cáo bị bắt giữ, tạm giam trong vụ án này ngày 09/10/2024, bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 09/10/2024, Lò Văn N đi bộ đến bản L1, xã M, thành phố Đ, tỉnh Đ để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến khu vực cuối bản, N gặp và mua được của 01 người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết tên được 01 gói nilon màu xanh bên trong có 02 gói nilon màu hồng đều chứa Heroine có khối lượng 0,16 gam, mua được Heroine N cất giấu vào trong lỗ mũi bên trái rồi đi bộ về nhà. Hồi 18 giờ 30 phút cùng ngày khi N đi bộ về đến khu vực bản C 1, xã M, thành phố Đ thì bị tổ công tác Công an xã P phối hợp với Công an hành phố Đ đang làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 09/10/2024 đã xác định: Cục bột thể rắn màu trắng đục nghi Heroine thu giữ khi bắt quả tang của Lò Văn N (gói thứ nhất) có khối lượng là 0,09 gam (ký hiệu M1) gửi toàn bộ giám định. Cục bột thể rắn màu trắng đục nghi Heroine thu giữ khi bắt quả tang của Lò Văn N (gói thứ hai) có khối lượng là 0,07 gam (ký hiệu M2) gửi toàn bộ giám định.

Tại bản kết luận giám định số 1592/KL-KTHS ngày 15/10/2024 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Vật chứng ký hiệu M1, M2 có tổng khối lượng 0,16 gam cục chất bột thể rắn màu trắng đục là chất ma túy loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giám định 0,09gam.

Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSTPĐBP ngày 21/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ đã truy tố bị cáo Lò Văn N về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND thành phố Đ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lò Văn N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38/BLHS.

Xử phạt bị cáo từ 17 tháng đến 20 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS năm 2015; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS năm 2015 về xử lý vật chứng.

Căn cứ Khoản 2 Điều 136/ BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo cũng hoàn toàn nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của VKSND thành phố Đủ không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt không có ý kiến gì khác.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hồi 18 giờ 30 phút ngày 09/10/2024 tại khu vực bản C 1, xã M, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, Lò Văn N đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,16 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy có được là do mua của một người đàn phụ nữ dân tộc Mông không biết tên tại bản L 1, xã M, thành phố Đ với giá 100.000đ, sau khi mua ma túy được N đem về chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang.

Hành vi tàng trữ 0,16 gam heroine trên người mục đích để sử dụng của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249/BLHS năm 2015. Lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định; Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo.

Cáo trạng của VKSND thành phố Đ đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình đã gây ra.

[2]. Xét tính chất mức độ phạm tội của bị cáo thì hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội, tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật. Song vì nhu cầu của bản thân bị cáo đã bất chấp và cố tình vi phạm. Nên cần phải xử lý bị cáo nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

[3]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lò Văn N HĐXX thấy rằng: Ngày 28/08/2023 bị Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Điện Biên xử 16 tháng tù về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" ngày 23/8/2024 chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương bản án này đến nay chưa xóa án tích; Bị cáo lại tiếp tục phạm tội mới với lỗi cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Tái phạm" được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52/BLHS.

Ngày 13/07/1999 bị TAND tỉnh L xử phạt 08 năm tù về tội: "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 28/9/2007 đã chấp hành xong toàn bộ bản án. Bản án này đã xóa án tích. Bị cáo có nhân thân xấu.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51/BLHS.

Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để bị cáo tiếp tục cai nghiện cải sửa lỗi lầm trở thành người công dân tốt cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của VKS là phù hợp HĐXX chấp nhận.

[4]. Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249/BLHS là phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét kinh tế bị cáo khó khăn, bản thân lại nghiện chất ma tuý. Nên không có điều kiện để thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với người phụ nữ bị cáo đã gặp tại bản L 1, xã M, thành phố Đ, đã bán ma túy cho bị cáo, do không đủ căn cứ nên cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được. HĐXX không xem xét.

[5]. Về hành vi và các Quyết định của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp được chấp nhận.

[6]. Vật chứng của vụ án cần áp dụng Điểm a, c khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS về xử lý vật chứng.

Tịch thu tiêu huỷ H: 0,09 gam Heroine được hoàn lại sau giám định; 01 mảnh nilon màu xanh; 02 mảnh nilon màu hồng;

[7].Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án bị cáo Lò Văn N phải chịu 200.000đ án phí HSST

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51;điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 38/ BLHS; Điều 331, Điều 333/BLTTHS;

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  2. Xử phạt bị cáo Lò Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 09/10/2024)
  3. Vật chứng: Căn cứ: Điểm a, c Khoản 1 Điều 47/BLHS; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Tịch thu tiêu huỷ: 0,09 gam Heroine được hoàn lại sau giám định; 01 mảnh nilon màu xanh; 02 mảnh nilon màu hồng. (Vật chứng đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ vào ngày 22/01/2025 đặc điểm vật chứng mô tả theo biên bản giao nhận).

  1. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136/BLTTHS năm 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí lệ phí Tòa án bị cáo Lò Văn N phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/03/2025).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đ;
  • - VKSND tỉnh ĐB
  • - VKSND TPÐ;
  • - Cơ quan CSĐTCA TP Đ;
  • - Bộ phận HNV- CATP Đ;
  • - Sở TP tỉnh Điện Biên;
  • - CCTHADS TP Đ;
  • - HSTHA hình sự:
  • - Bị cáo;
  • - Lưu./

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bạc Thị Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2025/HSST ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 71/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 18 tháng tù giam
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger