Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ MỘC CHÂU

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2025/HS-ST

Ngày 11-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Mai Hương và bà Hoàng Thị Hội.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Lệ Giang, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lý Hoàng Linh, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 73/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 70/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Đào Thịnh P, sinh ngày: 28/12/1974

    tại huyện M (nay là thị xã M), tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tổ dân phố M, phường T, thị xã M, tỉnh Sơn La (trước đây là Tiểu khu C, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Ngọc T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1 - sinh năm 1947; có vợ là Nguyễn Thị H, có 02 con; tiền án: Không;

    Tiền sự: Ngày 19/4/2017 Công an huyện V, tỉnh Sơn La quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, phạt tiền 1.500.000 đồng, chưa nộp phạt (chưa được xóa tiền sự).

    Nhân thân: Ngày 05/01/2012 Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La quyết định cưỡng chế vào chữa trị, giáo dục, lao động tại Trung tâm Giáo dục - Lao động huyện Y, thời hạn 24 tháng (đã được xóa tiền sự); Ngày 08/10/2019 Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La xử phạt 26 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích);

    Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2024 đến nay; có mặt.

  2. Phạm Văn Đ, sinh ngày: 10/8/1982

    tại thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: Tổ dân phố M, phường T, thị xã M, tỉnh Sơn La (trước đây là Tiểu khu C, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B (đã chết) và bà Bùi Thị Q - sinh năm 1956; có vợ là Vũ Thị H1, có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không;

    Nhân thân: Ngày 13/8/2018 Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích);

    Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2024 đến nay; có mặt.

  3. Nguyễn Anh T2, sinh ngày: 04/10/1993

    tại huyện M (nay là thị xã M), tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường T, thị xã M, tỉnh Sơn La (trước đây là Tiểu khu C, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang T3 và bà Phạm Thị B1; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2024 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 16/12/2024, Đào Thịnh P đi bộ từ nhà đến bản C, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy mang về sử dụng và bán kiếm lời. Khi đi đến đường D, P gặp và hỏi mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết 20 viên hồng phiến với giá 700.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, P đã lấy ra sử dụng hết 02 viên rồi gói lại như cũ, cất giấu tại túi quần bên trái rồi mang về nhà.

Khoảng 09 giờ ngày 17/12/2024, Nguyễn Anh T2 nhắn tin rủ Phạm Văn Đ góp tiền mua ma túy sử dụng, Đ đồng ý. Đ gọi điện thoại cho P hỏi mua mua ma túy thì P hẹn một lúc nữa đến nhà P. Đã tìm được địa điểm mua ma túy nên Đ gọi điện thoại bảo T2 đến nhà Đ. Một lúc sau T2 đến nhà Đ, T2 đưa cho Đ 200.000 đồng để mua ma túy, Đ bỏ ra 150.000 đồng. Đ đi đến nhà P, còn T2 ở nhà của Đ để chờ Đ đi mua ma túy mang về cùng sử dụng. Khi Đ đến P đang ở nhà một mình, Đ đã hỏi và mua được của P 07 viên ma túy hồng phiến với giá 350.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Đ cất giấu ma túy trong túi quần bên trái rồi đi về. Vào khoảng 11 giờ ngày 17/12/2024, khi Đ đi về đến khu vực đường dân sinh của Tiểu khu cấp C, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La thì bị Tổ công tác Công an huyện M kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của Phạm Văn Đ: 01 gói bằng mảnh nilon màu hồng bên trong chứa 07 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY, nghi là Methamphetamine; 01 gói giấy màu trắng xanh bên trong có 01 mảnh giấy bạc màu trắng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J7 Prime màu đồng, bên trong gắn sim số 0389083224.

Cùng ngày 17/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M phối hợp với Công an thị trấn N tiến hành kiểm tra, rà soát người nghiện chất ma túy trên địa bàn, đã tiến hành đến nhà Đào Thịnh P kiểm tra, P đã tự giác lấy từ trong túi quần bên trái đang mặc ra 01 gói giấy bên trong chứa 11 viên hồng phiến giao nộp cho Tổ công tác, P khai nhận đó là ma túy của P cất giấu mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ của Đào Thịnh P: 01 gói giấy có in chữ bên trong chứa 11 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY, nghi là Methamphetamine; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, bên trong gắn sim số 0369660532.

Ngày 17/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Anh T2. Quá trình bắt giữ, thu giữ của T2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, lắp sim số 0868641004.

Ngày 17/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định 11 viên nén màu hồng thu giữ của Đào Thịnh P có khối lượng 1,05 gam, lấy 05 viên có khối lượng 0,47 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu P; mở niêm phong, cân xác định 07 viên nén màu hồng thu giữ của Phạm Văn Đ có khối lượng 0,66 gam, lấy 05 viên có khối lượng 0,47 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu Đ.

Tại Kết luận giám định số 32/KL-KTHS ngày 19/12/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu P là ma tuý; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,47 gam; Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 1,05 gam; Loại Methamphetamine”.

Tại Kết luận giám định số 33/KL-KTHS ngày 19/12/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu Đ là ma tuý; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,47 gam; Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,66 gam; Loại Methamphetamine”.

Cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 20/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu truy tố các bị can Phạm Văn Đ và Nguyễn Anh T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; bị can Đào Thịnh P về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Đào Thịnh P, Phạm Văn Đ, Nguyễn Anh T2 trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Các bị cáo nhận tội như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các căn cứ pháp luật giải quyết vụ án như sau:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Thịnh P từ 42 tháng đến 48 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T2 từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:
    • + Truy thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) đối với Đào Thịnh P.
    • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J7 Prime của Phạm Văn Đ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 của Nguyễn Anh T2; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y15s, vỏ màu xanh của Đào Thịnh P.
    • + Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì bên trong đựng 02 viên nén màu hồng có khối lượng 0,19 gam (là Methamphetamine), một mảnh giấy màu trắng xanh, một mảnh giấy bạc màu trắng, một mảnh nilon màu hồng và phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng 06 viên nén màu hồng có khối lượng 0,58 gam (là Methamphetamine), một mảnh giấy có in chữ và phong bì niêm phong ban đầu.
  • - Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu phát biểu luận tội, các bị cáo Đào Thịnh P, Phạm Văn Đ, Nguyễn Anh T2 nhất trí với toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Xét thấy tại phiên tòa, các bị cáo Đào Thịnh P, Phạm Văn Đ, Nguyễn Anh T2 đã tự nguyện khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, lời khai của các bị cáo là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an huyện M lập vào hồi 11 giờ ngày 17/12/2024; biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an huyện M phối hợp với Công an thị trấn N lập vào hồi 15 giờ ngày 17/12/2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản kiểm tra nội dung thông tin lưu trữ trong điện thoại di động; các kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy:

  • - Ngày 16/12/2024, Đào Thịnh P đã đi mua trái phép Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân nghiện chất ma túy và bán kiếm lời. Ngày 17/12/2024, P đã bán cho Phạm Văn Đ 0,66 gam Methamphetamine nhằm thu lợi số tiền 350.000 đồng, còn lại 1,05 gam Methamphetamine cất giấu thì bị cơ quan công an phát hiện thu giữ. Hành vi của bị cáo Đào Thịnh P đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự quy định bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
  • - Ngày 17/12/2024, Nguyễn Anh T2 khởi sướng, rủ Phạm Văn Đ đi mua ma túy cùng nhau sử dụng, T2 góp 200.000 đồng, Đ góp 150.000 đồng. Phạm Văn Đ đã mua trái phép của Đào Thịnh P 0,66 gam Methamphetamine với giá 350.000 đồng, mục đích mang về cùng sử dụng với T2 thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo Phạm Văn Đ, Nguyễn Anh T2 đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Vì vậy, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Phân hoá vai trò phạm tội: Các bị cáo Nguyễn Anh T2, Phạm Văn Đ là đồng phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị cáo T2 là người khởi sướng, góp số tiền 200.000 đồng để mua ma túy; bị cáo Đ góp số tiền 150.000 đồng, trực tiếp đi mua, cất giấu ma túy. Vì vậy, cần căn cứ Điều 58 Bộ luật Hình sự xem xét tính chất của từng đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng bị cáo khi quyết định hình phạt.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Đào Thịnh P, Phạm Văn Đ, Nguyễn Anh T2 có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Phạm Văn Đ đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra nhanh chóng làm rõ nội dung vụ án và hành vi của đồng phạm, do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đ.

Bị cáo Đào Thịnh P có bố đẻ là ông Đào Ngọc T và mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T1; bị cáo Nguyễn Anh T2 có bà ngoại là bà Nguyễn Thị N, đều là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba. Do đó, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng thêm đối với bị cáo Đào Thịnh P và bị cáo Nguyễn Anh T2.

[6] Về nhân thân của bị cáo: Các bị cáo có nhân thân xấu, đều là các đối tượng nghiện chất ma túy. Bị cáo Đào Thịnh P có 01 tiền án về tội phạm ma túy (đã được xóa án tích) và 02 tiền sự liên quan đến ma túy (một tiền sự chưa được xóa, một tiền sự đã được xóa); bị cáo Phạm Văn Đ có 01 tiền án về tội phạm ma túy (đã được xóa án tích).

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[7] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, nhưng xét thấy các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

  • - Đối với số tiền 350.000 đồng bị cáo Đào Thịnh P được thu lợi từ việc thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho Phạm Văn Đ. Xét thấy, đây là tiền bị cáo P có được từ việc thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo P đã chi tiêu cá nhân hết. Do đó, cần truy thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 350.000 đồng đối với Đào Thịnh P.
  • - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J7 Prime của Phạm Văn Đ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 của Nguyễn Anh T2; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y15s, vỏ màu xanh của Đào Thịnh P. Xét thấy các bị cáo đã sử dụng điện thoại làm phương tiện liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với các chiếc sim nằm trong điện thoại không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 phong bì bên trong đựng 02 viên nén màu hồng có khối lượng 0,19 gam (là Methamphetamine), một mảnh giấy màu trắng xanh, một mảnh giấy bạc màu trắng, một mảnh nilon màu hồng và phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng 06 viên nén màu hồng có khối lượng 0,58 gam (là Methamphetamine), một mảnh giấy có in chữ và phong bì niêm phong ban đầu. Xét thấy đây là những vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[11] Về các vấn đề khác:

Đối với người phụ nữ dân tộc Mông đã bán ma túy cho Đào Thịnh P, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

Thời hạn tạm giam đối với các bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam các bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Đào Thịnh P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Đào Thịnh P 42 (Bốn mươi hai) tháng tù.

    Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 17/12/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 30 (Ba mươi) tháng tù.

    Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 17/12/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T2 24 (Hai mươi tư) tháng tù.

    Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 17/12/2024.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  4. Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án:

    • - Truy thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) đối với Đào Thịnh P.
    • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J7 Prime của Phạm Văn Đ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 của Nguyễn Anh T2; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y15s, vỏ màu xanh của Đào Thịnh P. Tịch thu tiêu hủy các sim nằm bên trong điện thoại.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì bên trong đựng 02 viên nén màu hồng có khối lượng 0,19 gam (là Methamphetamine), một mảnh giấy màu trắng xanh, một mảnh giấy bạc màu trắng, một mảnh nilon màu hồng và phong bì niêm phong ban đầu; 01 phong bì bên trong đựng 06 viên nén màu hồng có khối lượng 0,58 gam (là Methamphetamine), một mảnh giấy có in chữ và phong bì niêm phong ban đầu.

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 72/BBVC-CCTHA ngày 21/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Mộc Châu).

  5. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Về án phí: Buộc các bị cáo Đào Thịnh P, Phạm Văn Đ, Nguyễn Anh T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

  6. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11/3/2025).

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND thị xã Mộc Châu;
  • - Công an tỉnh Sơn La (3);
  • - Chi cục THADS thị xã Mộc Châu;
  • - Trại giam;
  • - THA HS;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đỗ Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La về hình sự: mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 71/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger