Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6

Thành phố Hồ Chí Minh

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2025/HNGĐ -ST

Ngày: 14-02-2025

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Văn Phố
  2. Bà Nguyễn Thị Lưu Ly

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Quí – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Anh Đào - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 414/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 302/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2025/QĐST-HPT ngày 20 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm: 1973; địa chỉ: 1 đường N, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu K, sinh năm: 1966; Địa chỉ: 1 đường N, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/8/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày:

Bà và ông Nguyễn Hữu K tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 96, quyển số 01/2010 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 18/7/2008. Sau khi về chung sống với nhau thì vợ chồng bà sống hạnh phúc. Tuy nhiên đến năm 2005 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do ông K đi làm ăn xa nhà và có quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài, từ đó vợ chồng mỗi lần gặp nhau đều cãi vã, gây gổ với nhau. Vợ chồng bà không ai quan tâm đến ai, mỗi lần ông K về nhà là vợ chồng lại xảy ra tranh chấp và to tiếng với nhau, có khi ông K còn đánh đập bà. Mâu thuẫn này đã kéo dài nhiều năm nay và vợ chồng bà không thể hàn gắn được.

Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông K để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Bà và ông K có với nhau 03 (ba) người con chung gồm: Nguyễn Thị Tú A, sinh ngày 08/9/1991; Nguyễn Minh T, sinh ngày: 08/5/1994 và Nguyễn Lê Ngọc H1, sinh ngày: 12/4/2005, tất cả các con đều đã trưởng thành.

Về tài sản chung: Bà và ông K tự thỏa thuận giải quyết.

Về nợ chung: không có

- Tại bản tự khai, biên bản hòa giải ngày 19/12/2024 ông Nguyễn Hữu K trình bày:

Sau khi kết hôn vợ chồng ông sống hạnh phúc. Ông xác nhận là trước đây ông đi làm ăn xa nhà và có quan hệ với người phụ nữ khác nhưng sự việc này đã chấm dứt cách đây nhiều năm. Tuy không thường xuyên ở nhà nhưng ông vẫn thực hiện đầy đủ trách nhiệm của người cha. Giữa ông và bà H không thể nói chuyện được với nhau, không chia sẻ và quan tâm nhau như trước đây, mạnh ai nấy sống. Ông đi làm xa nhà và chỉ về nhà và ở lại vào cuối tuần. Nay ông không đồng ý ly hôn, ông mong hàn gắn tình cảm vợ chồng để các con có đầy đủ cha mẹ.

Về con chung: Ông và bà H có với nhau 03 (ba) người con chung tên là: Nguyễn Thị Tú A, sinh ngày 08/9/1991; Nguyễn Minh T, sinh ngày: 08/5/1994 và Nguyễn Lê Ngọc H1, sinh ngày: 12/4/2005, tất cả các con đều đã trưởng thành.

Về tài sản chung: Ông và bà H tự thỏa thuận giải quyết.

Về nợ chung: không có

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và của Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: các đương sự đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 70,71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc đưa vụ án ra xét xử đúng theo quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Lê Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Hữu K. Về con chung: đều đã trưởng thành. Về tài sản chung: hai bên tự thỏa thuận giải quyết và nợ chung: hai bên xác nhận không có. Về án phí: bà H nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết:

Bà Lê Thị H có đơn yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hữu K nên Tòa án nhân dân Quận 6 thụ lý và giải quyết theo khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Bị đơn ông Nguyễn Hữu K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng tại phiên tòa hôm nay ông K vẫn tiếp tục vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân

Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Hữu K có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 26, quyển số 01/2008 đăng ký ngày 18/7/2008 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Như vậy hôn nhân giữa bà H và ông K là hôn nhân hợp pháp.

Theo như lời trình bày của ông K và bà H thì khi về sống chung với nhau vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do ông K đi làm ăn xa nhà và có quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài. Vợ chồng ông K và bà H mạnh ai nấy sống, không chia sẻ và quan tâm đến nhau. Bà H xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông K nên yêu cầu được ly hôn với ông K. Ông K không đồng ý ly hôn vì muốn các con có đầy đủ cả cha và mẹ

Theo Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau...”. nhưng giữa vợ chồng bà H và ông K đã không có sự tôn trọng, quan tâm, thương yêu và chăm sóc lẫn nhau. Từ nhiều năm nay không ai còn quan tâm đến ai, mạnh ai nấy sống. Ông K muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập ông K đến Tòa án để hòa giải nhưng ông K cũng chỉ đến Tòa án có 01 lần và tại phiên tòa hôm nay ông K vẫn tiếp tục vắng mặt. Điều này chứng tỏ ông K cũng không còn tha thiết hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà H. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà Lê Thị H và ông Nguyễn Hữu K đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định cho bà Lê Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Hữu K là phù hợp theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Bà H và ông K có với nhau 03 (ba) người con chung tên là: Nguyễn Thị Tú A, sinh ngày 08/9/1991; Nguyễn Minh T, sinh ngày: 08/5/1994 và Nguyễn Lê Ngọc H1, sinh ngày: 12/4/2005, tất cả đều đã trưởng thành.

[4] Về tài sản chung: Bà H và ông K tự thỏa thuận giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về nợ chung: Bà H và ông K khai không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ ( Ba trăm ngàn đồng) do bà H nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H

  1. Về quan hệ hôn nhân: bà Lê Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Hữu K
    Giấy chứng nhận kết hôn số 26, quyển số 01/2008 đăng ký ngày 18/7/2008 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai cấp cho bà Lê Thị H và ông Nguyễn Hữu K không còn giá trị pháp lý.
  2. Về con chung: đều đã trưởng thành.
  3. Về tài sản chung: bà H và ông K tự thỏa thuận giải quyết.
  4. Về nợ chung: Bà H và ông K khai không có nợ chung.
  5. Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) do bà Lê Thị H nộp được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí mà bà H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010203 ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6. Bà H đã nộp đủ án phí.
  6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  7. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 6;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6;
  • - UBND xã Trị An, huyện Vĩnh Cửu
  • Tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Nhàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2025/HNGĐ -ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 71/2025/HNGĐ -ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger