Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠNH TRỊ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12-12-2024

“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Kha.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Quang Toản.

Ông Nguyễn Thanh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Ni, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 190/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024, về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 245/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên Tòa số 190/2024/QĐST-DS ngày 22 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trà Thị Bích T, sinh năm 2002(vắng mặt, có đơn).

Địa chỉ: Số D, ấp C, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị T: Bà Lâm Thị Hằng N, sinh năm 1988 – Luật sư VPLS Việt Ú. (vắng mặt, có đơn).

Địa chỉ: Số A, ấp C, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng

- Bị đơn: Anh Kim M, sinh năm 1999 (vắng mặt, có đơn).

Địa chỉ: ấp X, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 20/9/2024, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trà Thị Bích T, trình bày:

Chị và anh M quen biết tự nguyện sống chung với nhau và có tổ chức tiệc cưới và làm thủ tục đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 23/2022 ngày 30/03/2022. Vợ chồng có 01 người con chung tên Kim Trà M1, sinh ngày 15/10/2020. Trong thời gian sống chung thường bất đồng quan điểm, đến tháng 10/2023 thì mâu thuẫn ngày càng nhiều, anh M thường xuyên chửi bới và dùng vũ lực đe doạ chị T nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay, chị T thấy cuộc sống không hạnh phúc và không thể hàn gắn nên yêu cầu ly hôn với anh M và yêu cầu nuôi con chung đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi), không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung thì không có, không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn ông Kim M vắng mặt, quá trình giải quyết có văn bản trình bày ý kiến: Anh M thống nhất ly hôn với chị Trà Thị Bích T và đồng ý giao con chung tên Kim Trà M1, sinh ngày 15/10/2020 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh M không cấp dưỡng nuôi con. Anh cũng thống nhất với chị T là cả hai không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Lâm Thị Hằng N có đơn xin xét xử vắng mặt nhưng có gửi cho Tòa án Bài bảo vệ cho nguyên đơn nội dung đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trà Thị Bích T được ly hôn với bị đơn anh Kim M, giao cho chị T được nuôi con chung là Kim Trà M1 và anh M không yêu cầu anh Kim M cấp dưỡng nuôi con. Đối với tài sản chung và nợ chung đều được chị T và anh M xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng thụ lý và giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho nguyên đơn, bị đơn và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nhưng tất cả đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án theo quy định.

[2] Về hôn nhân: Chị T và anh M tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn và được được UBND xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình, chị T có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ án anh Kim M có ý kiến đồng ý ly hôn với chị T. Xét thấy, giữa vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và sống chung với nhau nhưng hiện nay tình trạng hôn nhân của chị T và anh M đã mâu thuẫn trầm trọng hai bên đều thống nhất ly hôn không ai có mong muốn được hàn gắn. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T được ly hôn với anh M theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị T và anh M có một người con chung là Kim Trà M1, sinh ngày 15/10/2020. Xét thấy hiện nay cháu M1 do chị T chăm sóc và nuôi dưỡng từ khi vợ chồng ly thân, anh M đồng ý giao con nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu M1 cho chị T được nuôi dưỡng, anh M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con, chị T và anhMinh thống nhất không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết trong vụ án này.

[4] tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng, nguyên đơn chị Trà Thị Bích T phải chịu theo quy định điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trà Thị Bích T được ly hôn với anh Kim M.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Kim Trà M1, sinh ngày 15/10/2020 cho chị Trà Thị Bích T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành “đủ 18 tuổi”. Anh Kim M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở anh M thực hiện quyền này.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  4. Nguyên đơn chị Trà Thị Bích T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007955 ngày 21/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, chị T đã nộp xong án phí. Bị đơn anh Kim M không phải chịu án phí.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Thạnh Trị;
  • - Chi cục THADS huyện Thạnh Trị;
  • - UBND xã Châu Hưng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Tuyết Kha

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HNGĐ-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 71/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trà Thị Bích thoa yêu cầu ly hôn với anh Kim Minh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger