Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG PHÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/HNGĐ-ST

Ngày 12/12/2024

V/v Ly hôn, tranh chấp

về nuôi con và cấp dưỡng

khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bảo Quốc

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Thạch Thanh Tâm

Bà Trần Thúy Kiều

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Trân-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Hồng Như-Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 158/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và cấp dưỡng khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Hà Văn C, sinh năm 1977; Địa chỉ: ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị T-Luật sư của Văn phòng Luật sư Huỳnh Ảnh T1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh S. (có mặt)

- Bị đơn: Bà Trần Thị Kiều O, sinh năm 1979; Địa chỉ: ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Hà Văn C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2000, ông C và bà O kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. Trong thời kỳ hôn nhân ông bà chung sống hạnh phúc với nhau, nhưng về sau thì bắt đầu phát sinh nhiều mẫu thuẫn vì tính tình vợ chồng không còn hòa hợp với nhau, bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên cự cải với nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Mục đích hôn nhân không đạt được. Nay ông C yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với bà O.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, ông C và bà O có 02 người con chung là Hà Thị Thúy K (nữ, sinh ngày 12/11/2000) và Hà Nhật Q (nam, sinh ngày 26/9/2009). Sau khi ly hôn, do K đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết, còn Q thì do bà O nuôi dưỡng và ông C cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi đủ 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 12/01/2025.

Về tài sản chung: Ông C trình bày không có tài sản chung và không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Ông C trình bày không có nợ chung và không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn là bà Trần Thị Kiều O trình bày:

Bà O không đồng ý ly hôn với ông C, do trong tình cảm vợ chồng thì bà O không có lỗi gì. Còn về con chung bà O yêu cầu cấp dưỡng nuôi cháu Q mỗi tháng là 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi đủ 18 tuổi tính từ ngày 12/01/2025. Riêng về tài sản chung và nợ chung do bà O không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn với bà O của ông C do tình cảm vợ chồng không còn. Còn về con chung đề nghị chấp nhận mức cấp dưỡng nuôi con chung của ông C mỗi tháng là 2.000.000 đồng là hoàn toàn phù hợp với thực tế thu nhập của ông C cũng như mức thu thập tại địa phương. Riêng về tài sản chung và nợ chung thì ông C không yêu cầu giải quyết.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án thì Thẩm phán xác định về thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định của pháp luật và thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát cũng đảm bảo đúng quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký cũng chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Hà Văn C yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn và tranh chấp nuôi con với bà Trần Thị Kiều O có nơi cư trú tại xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng nên quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp về nuôi con và cấp dưỡng khi ly hôn và Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Khoản 1, Khoản 5 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Khoản 1 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Ông C và bà O kết hôn với nhau vào năm 2000 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc và tại thời điểm kết hôn ông C và bà O không vi phạm điều cấm kết hôn. Vì vậy, hôn nhân giữa ông C và bà O là hợp pháp theo quy định tại Điều 9, Điều 10 và Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.

Trong thời gian đầu chung sống, thì ông C và bà O sống rất hạnh phúc, nhưng khoảng năm 2023 thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, ông bà ly thân cho đến nay. Từ đó cho thấy, ông C với bà O đã không còn tình nghĩa vợ chồng, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, ông bà cũng sống ly thân nên đã vi phạm nghĩa vụ vợ chồng, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014.

Xét thấy, mặc dù bà O không đồng ý ly hôn với ông C nhưng thực trạng mâu thuẫn hôn nhân giữa ông C với bà O đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn hay hòa giải được nên căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông C.

[3]. Về con chung: Xét thấy, do con chung là Hà Thị Thúy K (nữ, sinh ngày 12/11/2000) đã trưởng thành (đủ 18 tuổi) và không ai yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với con chung là cháu Hà Nhật Q (nam, sinh ngày 26/9/2009) đang do bà O là người trực tiếp nuôi dưỡng, được chăm sóc và giáo dục trong điều kiện tốt nhất, cháu Q hiện đang sống ổn định và phát triển về mọi mặt, được đảm bảo việc học hành, đã quen với điều kiện môi trường sống chung với mẹ, ông C cũng đồng ý giao cháu Q cho O trực tiếp nuôi dưỡng và nguyện vọng của cháu Q cũng mong muốn được sống chung với mẹ. Do đó, căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Hà Nhật Q cho bà O là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi).

Ông C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai có quyền cản trở. Nhưng ông C không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của bà O.

[4]. Về cấp dưỡng nuôi con: Sau khi ly hôn, bà O là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Hà Nhật Q và có yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là 3.000.000 đồng/tháng tính từ ngày 12/01/2025 cho đến khi Q đủ 18 tuổi. Còn ông C chỉ đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu Q mỗi tháng là 2.000.0000 đồng/tháng.

Xét thấy, do ông C sinh sống bằng nghề làm ruộng và chạy xe gắn máy thuê, còn việc bà O yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là 3.000.000 đồng/tháng là quá cao so với mức thu nhập của người lao động, mức cấp dưỡng để nuôi con thực tế tại địa phương. Hơn nữa, bà O cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh khả năng thu nhập thực tế hàng tháng của ông C là bao nhiêu theo quy định tại Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Mặt khác, theo quy định tại Nghị định số 74/2024/NĐCP ngày 30/6/2024 của Chính phủ về quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng thì huyện L, tỉnh Sóc Trăng thuộc Vùng IV nên mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc cho người sử dụng lao động tính từ ngày 01/7/2024 là 3.450.000 đồng/tháng.

Do đó, Hội đồng xét xử cần cân nhắc, xem xét điều chỉnh lại mức cấp dưỡng nuôi cháu Q hàng tháng là 2.000.000 đồng/tháng là phù hợp, không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi ông C và cháu Q đang cư trú, phương thức cấp dưỡng là hàng tháng, vào ngày 12 hàng tháng tính từ ngày 12/01/2025. Bà O là người trực tiếp nuôi cháu Q nên là người được nhận tiền cấp dưỡng nuôi cháu Q.

[5]. Về tài sản chung và nợ chung: Ông Hà Văn C và bà Trần Thị Kiều O không ai trình bày ý kiến yêu cầu hoặc làm đơn yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6]. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông C phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng theo quy định pháp luật.

[7]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1, Khoản 5 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 107; Điều 110; Điều 116; Điều 117; Điều 118 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ Khoản 5, Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Hà Văn C được ly hôn với bà Trần Thị Kiều O.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Hà Nhật Q (nam, sinh ngày 26/9/2009) cho bà Trần Thị Kiều O trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi sống mình.

    Ông Hà Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai có quyền cản trở.

    Ông Hà Văn C không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của bà Trần Thị Kiều O.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Hà Văn C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Hà Nhật Q với mức cấp dưỡng hàng tháng là 2.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng vào ngày 12 hàng tháng tính từ ngày 12/01/2025 (cấp dưỡng lần đầu) cho đến khi con chung là cháu Hà Nhật Q đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) có khả năng lao động, có tài sản để tự nuôi sống mình hoặc chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định pháp luật về hôn nhân gia đình.

    Bà O là người trực tiếp nuôi cháu Hà Nhật Q nên là người được nhận tiền cấp dưỡng nuôi cháu Hà Nhật Q.

  4. Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
  5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Hà Văn C phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng và 300.000 đồng là án phí cấp dưỡng, tổng số tiền án phí mà ông C phải chịu là 600.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006723 ngày 08/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện L, tỉnh Sóc Trăng nên ông Hà Văn C còn phải chịu án phí là 300.000 đồng.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi bổ sung năm 2014), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi bổ sung năm 2014); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi bổ sung năm 2014).

Nơi nhận.

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Long Phú;
  • - Chi cục THADS huyện L;
  • - UBND xã L, huyện L;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Bảo Quốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HNGĐ-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con và cấp dưỡng khi ly hôn

  • Số bản án: 71/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và cấp dưỡng khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Hà Văn C được ly hôn với bà Trần Thị Kiều O.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger