Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10/12/2024

V/v “ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN – TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Nguyễn Văn Kiểm

2. Ông: Trần Văn Thiện

- Thư ký phiên toà: bà Vi Thi Lan Phương – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 290/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc "ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 244/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: anh Hồ Tiến M, sinh năm 1990 (có mặt)

Nơi thường trú. TDP C, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

- Bị đơn: chị Giáp Thị N, sinh năm 1994 (có mặt)

Nơi thường trú: TDP C, thị trấn N, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

Nơi ở: thôn T, xã A, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo nguyên đơn anh Hồ Tiến M trình bày: Anh kết hôn với chị Giáp Thị N vào ngày 30 tháng 10 năm 2015, có được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 7 năm 2024 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách không hợp nhau, chị N không quan tâm tới chồng, con, mẫu thuẫn gia đình chồng; vì vậy chồng thường xuyên sảy ra cãi nhau đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không cải thiện. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 8 năm 2024 mỗi người một nơi không ai quan tâm đến ai. Nay thấy tình cảm vợ chồng không thể đoàn tụ, hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên anh M xin ly hôn chị N.

- Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là Hồ Hải Đ sinh ngày 18/11/2017. Hiện tại đang ở với chị N, sau khi ly hôn anh M đồng ý để chị N tiếp tục nuôi con; cấp dưỡng nuôi con hai bên tư thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung, ruộng canh tác: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Tại bản khai của chị Giáp Thi N1 trình bầy: chị kết hôn với anh Hồ Tiến M ngày 30/10/2015, trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang như anh M trình bầy là đúng. Sau khi kết hôn tình cảm vợ chồng thời gian đầu hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 8/2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên sảy ra cãi nhau, anh M không tôn trọng chị, vợ chồng sảy ra cãi nhau chỉ có gia đình nhà chị khuyên giải, còn gia đình anh M luôn xúi giục anh bỏ vợ; khiến cho tình cảm vợ chồng ngày càng căng thẳng đến nay không hòa giải được. Vợ chồng chị chính thức ly thân không ai quan tâm đến nhau từ tháng 8/2024 đến nay. Nay anh M xin ly hôn thì chị N1 không đồng ý ly hôn vì chị N1 thấy tình cảm giữa chị và anh M vẫn còn, vì con chung nên chị không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Hồ Hải Đ, sinh ngày 18/11/2017 như anh M trình bầy là đúng; nay con chung đang ở với chị, cháu khỏe mạnh, phát triển bình thường nếu anh M kiên quyết ly hôn chị xin được nuôi con không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con; Về điều kiện nuôi con, bản thân chị hiện tại đang làm điều dưỡng tại bệnh viện T địa chỉ thị trấn N, T, Bắc Giang mức lương bình quân 8.000.000 đồng/tháng. Nên chị nuôi con đảm bảo, không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con

- Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác: Chị không yêu câu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đảm bảo theo quy định. Đối với những người tham gia tố tụng: Các đương sự nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án, sau khi phân tích Kiểm sát viên đề nghị HĐXX

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xử:

Về quan hệ hôn nhân. Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Hồ Tiến M. Xử cho anh Hồ Tiến M được ly hôn chị Giáp Thị N.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của anh Hồ Tiến M và chị Giáp Thị N: Giao cho chị Giáp Thị N được nuôi con chung là Hồ Hải Đ, sinh ngày 18/11/217; Về cấp dưỡng nuôi con chị N không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác: anh M, chị N không yêu cầu nên không xem xét giải quyết;

Về tiền án phí: Anh Hồ Tiến M phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn theo quy định.

Về quyền kháng cáo. đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, sau khi nghe ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên. Sau khi thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Hồ Tiến M nộp đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, nuôi con với bị đơn là chị Giáp Thị N, xác định quan hệ tranh chấp "ly hôn, tranh chấp về nuôi con". Bị đơn chị Giáp Thị N có nơi thường trú xã A, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên quy định tại Điều 28; Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Hồ Tiến M kết hôn cùng với chị Giáp Thị N vào ngày 30/10/2015, trên cơ sở tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã N nay là thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp, theo quy định tại điều 9 luật hôn nhân & gia đình. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc, đến tháng 8/2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống cũng như cách cư xử với gia đình. Vì vậy vợ chồng thường xuyên sảy ra mâu thuẫn, cãi nhau, không ai quan tâm, chăm sóc với ai thời gian đã dài; Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh M, chị N đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài. Mục đích hôn nhân không đạt được việc anh M xin ly hôn chị N là có căn cứ. Cần chấp nhận đơn ly hôn của anh Hồ Tiến M. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình xử cho anh Hồ Tiến M được ly hôn chị Giáp Thị N.

[3] Về con chung: Vợ chồng anh M, chị N có 01 con chung là Hồ Hải Đ, sinh ngày 18/11/2017; Tại phiên tòa anh M, chị N đều thống nhất giao con chung cho chị N nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con, chị N không yêu cầu. Xét thấy đây là sự tự nguyện thỏa thuận của hai bên, không trái đạo đức, xã hội nên cần công nhận sự thỏa thuận của hai bên giao cháu Hải Đ cho chị N nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng nuôi con chị N không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không đề cấp xem xét.

[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công sức đóng góp trong thời gian ở chung: anh M, chị N không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về tiền án phí: anh M phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại điều 271 và khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xử:

1. Về quan hệ hôn nhân. Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Hồ Tiến M. Xử cho anh Hồ Tiến M được ly hôn chị Giáp Thị N

2. Về con chung: Giao cho chị Giáp Thị N nuôi con chung là Hồ Hải Đ, sinh ngày 18/11/2017, chị N không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con; Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, anh M, chị N không yêu cầu giải quyết.

4. Về tiền án phí: anh Hồ Tiến M phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh M đã nộp theo biên lai số 0007075 ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh M đã nộp đủ tiền án phí ly hôn.

5. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tân Yên;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS huyệnTân Yên;
  • - UBND thị trấn N;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Vân Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HNGĐ-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN – TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 71/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN – TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Tiến M ly hôn Giáp Thị N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger