Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/HS-PT

Ngày: 05-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Mai Hương

Các thẩm phán: Ông Mai Anh Tuấn

Ông Nguyễn Đức Cảnh

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Kim Phượng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Thu Hồng - Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2024/TLPT-HS ngày 18/10/2024, do có kháng cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 58/2024/HS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nam Trực - tỉnh Nam Định.

*Bị cáo có kháng cáo:

Đỗ Đình Đ - Sinh năm 1997; Giới tính: Nam.

Nơi thường trú: Thôn T - xã Đ - huyện N - tỉnh Nam Định;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Bố đẻ: Đỗ Đình Đ1 (đã chết); Mẹ đẻ: Đỗ Thị T, sinh năm 1969;

Tiền án, Tiền sự: Không có;

Bị cáo tại ngoại, đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

*Bị hại không kháng cáo: Chị Tống Thị Y, sinh năm 1992

Nơi thường trú: Thôn Đ - xã T - huyện N - tỉnh Nam Định;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 11 năm 2023, Đỗ Đình Đ làm công nhân tại Công ty TNHH Đ2 (gọi tắt là Công ty Đ2), địa chỉ tại thôn T - xã H - huyện N - tỉnh Nam Định. Quá trình làm việc ở đây, Đ quen biết chị Tống Thị Y là kế toán của Công ty Đ2. Đ và chị Y thường xuyên nói chuyện tâm sự với nhau nên đến khoảng tháng 4 năm 2024, Đ và chị Y phát sinh tình cảm yêu đương nam nữ và đã có quan hệ tình dục với nhau. Khoảng cuối tháng 4 năm 2024, Đ xin nghỉ việc ở Công ty Đ2; sau khi nghỉ việc tại Công ty Đ2, Đ và chị Y vẫn thường xuyên liên lạc với nhau qua điện thoại. Đến đầu tháng 5 năm 2024, chị Y nhắn tin thể hiện quan điểm muốn chấm dứt mối quan hệ với Đ. Lúc này Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của chị Y. Ngày 07/5/2024, Đ nhắn tin từ tài khoản Zalo “Đỗ Đình Đ” của Đ đến tài khoản Z “Hải Yến” của chị Y, đe dọa chị Y rằng trong những lần Đ quan hệ tình dục với chị Y, Đ có quay video và chụp ảnh lại, Đ yêu cầu chị Y chuyển cho Đ số tiền là 10.000.000 đồng, nếu không Đ sẽ gửi video, ảnh nhạy cảm và công khai mối quan hệ của chị Y với Đ lên mạng xã hội của nhóm Công ty Đ2, đến chồng và người nhà chị Y biết. Đ liên tục gọi điện, nhắn tin đe dọa để chị Y phải chuyển tiền cho Đ. Do lo sợ hình ảnh nhạy cảm cũng như mối quan hệ nam nữ giữa mình và Đ bị mọi người biết, vì vậy chị Y đã đồng ý sẽ đưa cho Đ số tiền 10.000.000 đồng và hẹn sẽ gửi 02 lần qua tài khoản ngân hàng cho Đ.

Ngày 09/5/2024, chị Y chuyển cho Đ số tiền 5.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng V số [...] của chị Y vào tài khoản Ngân hàng A số 12190267 của Đ.

Ngày 23/5/2024, chị Y đã tố giác hành vi “Cưỡng đoạt tài sản” của Đ đến Công an xã H - huyện N.

Sau khi tiếp nhận tin tố giác của chị Y, Công an xã H đã chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N thụ lý và giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.

Từ nội dung vụ án như trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số 58/2024/HS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nam Trực - tỉnh Nam Định, đã quyết định:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 BLHS;
  2. Xử phạt bị cáo Đỗ Đình Đ 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án; Về tội “Cưỡng đoạt tài sản”;

Ngoài ra cấp sơ thẩm còn xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng.

+ Ngày 05-9-2024, bị cáo Đỗ Đình Đ có đơn kháng cáo với nội dung đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

+ Bị cáo Đỗ Đình Đ vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đã khai nhận hành vi phạm tội, xác định đã bị cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 BLHS là đúng người, đúng tội, không oan. Tuy nhiên bị cáo trình bày cấp sơ thẩm phạt bị cáo 15 tháng tù là quá nặng, vì bị cáo phạm tội lần đầu, hiểu biết pháp luật hạn chế, đã bồi thường đầy đủ cho bị hại, gia đình bị cáo hiện có hoàn cảnh khó khăn, bố mất sớm mẹ ốm đau thường xuyên, bị cáo hiện là lao động chính trong gia đình, bị cáo rất ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của bản thân; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

+ Bị hại Tống Thị Hải Y có đơn xin vắng mặt tại phiên toà phúc thẩm, đồng thời chị Y vẫn có đơn đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đỗ Đình Đ.

+ Đại diện VKSND tỉnh Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày kết luận về vụ án: Cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đỗ Đình Đ về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ tình tiết tăng nặng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Kháng cáo của bị cáo Đỗ Đình Đ làm trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự tố tụng phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng nghị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Xuất phát từ việc bị hại Y đã có gia đình nhưng vẫn có tình cảm yêu đương nam nữ với Đỗ Đình Đ, khi chị Y muốn chấm dứt mối quan hệ tình cảm yêu đương với Đ, thì Đ đã có hành vi đe doạ uy hiếp bắt chị Y phải đưa tiền cho bị cáo nếu không bị cáo sẽ tung các hình ảnh nhạy cảm trong mối quan hệ yêu đương với Đ cho bạn bè và gia đình chị Y, chị Y lo sợ ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình nên đã phải đưa cho Đ 5 triệu đồng.

Hành vi của Đỗ Đình Đ đã bị cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 BLHS là đúng người, đúng tội.

Quá trình tố tụng phúc thẩm, bị hại vẫn tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Trên cơ sở xem xét tính chất mức độ hành vi, số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại, tình tiết giảm nhẹ mới tại phiên toà phúc thẩm, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ pháp lý chấp nhận kháng cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt; Như vậy vẫn đáp ứng được công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm mà Đảng và Nhà nước đã đề ra đồng thời cũng thể hiện tính khoan hồng nhân đạo của pháp luật Việt Nam đối với người phạm tội đã biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân.

[3] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo - kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Đình Đ, sửa bản án sơ thẩm.
  2. Tuyên bố bị cáo Đỗ Đình Đ phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

    2.1. Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 BLHS.

    Xử phạt bị cáo Đỗ Đình Đ 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.

  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo - kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo - kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND - VKS - CA huyện Nam Trực
  • - Chi cục THA dân sự huyện Nam Trực
  • - VKS - Công an tỉnh Nam Định;
  • - Trại giam Đại An
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, tòa HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Mai Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HS-PT ngày 05/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về cưỡng đoạt tài sản (criminal appeal)

  • Số bản án: 71/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản (Criminal Appeal)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: . Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Đình Đ, sửa bản án sơ thẩm. 2. Tuyên bố bị cáo Đỗ Đình Đ phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. 2.1. Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Đỗ Đình Đ 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù. 3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo - kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo - kháng nghị. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger