Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án: 71/2024/HS-PT

Ngày 27 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Hương

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Vũ

Ông Nguyễn Hà Giang

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 89/2024/TLPT-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 do có kháng cáo của các bị cáo Phạm Thị Bích L, Nguyễn Thị H đối với Bản án hình sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Phạm Thị Bích L, sinh năm 1969 tại huyện H, tỉnh Phú Thọ; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Khu E, xã T, huyện H, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: Lớp 06/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn V (đã chết) và bà Trần Thị L1 (đã chết); Có chồng là Bùi Văn C, sinh năm 1963 và có 02 con (con lớn sinh năm 1987 và con nhỏ sinh năm 1990);

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Hiện tại ngoại. (Có mặt).

2. Nguyễn Thị H, sinh năm 1965 tại huyện H, tỉnh Phú Thọ; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Khu E, xã T, huyện H, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: Lớp 07/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C1 (đã chết) và bà Tống Thị T (đã chết); Có chồng là Vũ Đình P (đã chết) và có 05 con (con lớn nhất sinh năm 1981 và con nhỏ nhất sinh năm 1995); Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Hiện tại ngoại. (Có mặt).

+ Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị H: Ông Nguyễn Quốc T1 – Luật sư thuộc Văn phòng L2 - Đoàn luật sư tỉnh P. (Có mặt)

+ Người bào chữa cho bị cáo Phạm Thị Bích L : Bà Bùi Thị Thanh N – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị hại có kháng cáo:

1. Bà Nguyễn Thị H – sinh năm 1965

Nơi cư trú: Khu E, xã T, huyện H, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).

2. Bà Phạm Thị Bích L – sinh năm 1969

Nơi cư trú: Khu E, xã T, huyện H, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).

(Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập đến phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 11/3/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện H nhận được hồ sơ tin báo của Công an xã T về việc: Ngày 04/3/2024, tại khu E, xã T, huyện H, tỉnh Phú Thọ xảy ra vụ cố ý gây thương tích giữa Phạm Thị Bích L và Nguyễn Thị H cùng ở khu 5 xã T, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

Sau khi tiếp nhận nguồn tin, Cơ quan CSĐT - Công an huyện H đã tiến hành kiểm tra xác minh làm rõ nội dung vụ án như sau:

Chiều ngày 04/3/2024, Phạm Thị Bích L cùng chồng là ông Bùi Văn C ở khu 5 xã T, huyện H, tỉnh Phú Thọ đến bãi ruộng của gia đình ở khu E, xã T (cách nhà L khoảng 200m) để phát cỏ. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Thị H đến ngăn cản không cho vợ chồng L phát cỏ. Đây là diện tích đất xảy ra tranh chấp giữa gia đình L và H đã được Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa xét xử sơ thẩm và Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật xác định phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của gia đình L. Tại đây, H và L xảy ra tranh cãi, trong quá trình tranh cãi H và L đều cầm các đoạn gỗ là cành, ngọn cây đe dọa nhau; sau đó giằng co nhau các đoạn gậy gỗ này và con dao quắm L đang dùng để phát cỏ nhưng không ai bị thương tích. Đến khoảng 15 giờ 51 phút cùng ngày, H tiếp tục đi xuống ruộng nơi L và ông C đang phát cỏ để ngăn cản vợ chồng L. Hoan nhặt 01 đoạn tre bổ đôi dài 1,02m, có hai cạnh sắc, chiều rộng nhất là 6cm, có trọng lượng 500 gam tại mặt ruộng, cầm trên tay đứng cãi nhau với L. Khoảng hai phút sau, H đi lại gần và du đẩy ngăn cản không cho ông C phát cỏ. Lúc này, L đứng cách vị trí ông C và H khoảng 4m, tay phải L cầm 01 con dao quắm bằng kim loại dài 62 cm, chuôi dao màu xanh dài 37 cm, lưỡi dao dài 25 cm. Thấy ông C bị H du đẩy, L đi đến gần để ngăn cản H, thì H dùng hai tay cầm đoạn tre bổ đôi dơ cao lên trên đỉnh đầu, vụt mạnh từ trên xuống dưới về phía L. L dơ hai tay lên đỡ, nên bị H vụt trúng vào cổ tay trái làm rách da chảy máu. Bị H đánh, L liền đi lại gần ông C giật lấy con dao phát dài 53cm, chuôi dao bằng gỗ dài 25,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 27,5cm mà ông C đang cầm trên tay và đưa ông C cầm con dao quắm của mình, mục đích để đánh nhau với H. Thấy vậy, H đi lên phía bên trên gần với đường bê tông (đây là khu ruộng dốc), L đi lên gần vị trí H và dùng dao phát chém về phía H, còn H dùng đoạn tre bổ đôi vụt vào dao của L, cả hai không đánh trúng vào người nhau. Sau đó, L ném con dao phát về phía H, trúng và làm rách da, chảy máu các ngón III và V bàn tay trái của H, Liên tiếp tục nhặt 01 đoạn cây gỗ tại ruộng vụt về phía Hoan, còn H dùng đoạn gậy tre vụt lại trúng đoạn gậy gỗ liên đang cầm, do đoạn gậy gỗ bị mục nên gãy thành nhiều đoạn, L ném đoạn gỗ còn trên tay về phía H nhưng không trúng. H đi lên đường bê tông, L đứng dưới ruộng nhặt đá, đoạn cây gỗ mục ném về phía H không trúng. Lúc này, Nguyễn Văn T2, là con trai H đang đứng trên đường bê tông thấy L ném đoạn gỗ mục trúng vào xe máy của mình nên chửi “đm mày ném vào xe tao, tao trêu ghẹo gì mày mà ném vào xe tao”, rồi T2 nhặt một viên đá và đoạn gỗ mục ném về phía L, viên đá trúng vào lưng của L, thấy vậy H cũng nhặt đá ném về phía L. Sau khi ném nhau, L nhặt tại ruộng một đoạn ngọn của cây ca keo, dùng con dao quắm bằng kim loại chuôi màu xanh chặt lấy hai đoạn dài khoảng 1m cầm trên tay cùng ông C đi theo bờ ruộng về nhà, đồng thời L đe doạ sẽ chặn đánh H. Đến 16 giờ 06 phút 40 giây, H đi xe đạp điện theo đường bê tông để về nhà, khi đến cổng nhà L, H dừng lại, xuống xe tiếp tục cãi, chửi nhau với L. Lúc này, L đứng trên cổng nhà mình cách vị trí H đứng ở dưới đường bê tông khoảng 7m đến 8m, tay phải L cầm đoạn cây ca keo hình trụ dài 72cm, hai đầu chặt nham nhở, đường kính đầu to là 4,5cm, đường kính đầu nhỏ là 3,5cm, có trọng lượng là 600 gam ném về phía H (đây là đoạn cây ca keo L chặt từ ruộng mang về nhà mình). Thấy L ném, H cầm đoạn tre bổ đôi dơ lên đỡ nhưng vẫn bị đoạn cây ca keo đập trúng vào vùng gò má trái, làm gò má trái của H bị sưng nề. Sau đó, L và H tiếp tục cãi chửi nhau rồi dừng lại. Toàn bộ quá trình đánh, cãi chửi nhau giữa H và L được bà Chu Thị A dùng điện thoại di động quay, chụp lại.

Tối ngày ngày 04/3/2024, H có biểu hiện chóng mặt và buồn nôn nên được gia đình đưa đến Trung tâm y tế H1, sau đó H được chuyển đến Bệnh viện T3 điều trị đến ngày 12/3/2024 ra viện. Theo bà H trình bày, chi phí điều trị hết 24.336.923 đồng. Ngày 04/3/2024, L cũng được gia đình đưa đến trung tâm y tế huyện H1 điều trị đến ngày 11/3/2024 ra viện. Theo bà L trình bày, chi phí điều trị hết 2.570.607 đồng (bảo hiểm trả 2.221.628 đồng, L trả 348.979 đồng).

Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện H đã phối hợp với Công an xã T tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ việc. Quá trình khám nghiệm đã thu giữ: 01 đoạn tre bổ đôi dài 1,02m, có hai cạnh sắc, chiều rộng nhất là 6cm, có trọng lượng 500 gam; 01 đoạn ca keo hình trụ dài 94cm, một đầu bằng có đường kính là 5,5cm, một đầu nham nhở có đường kính là 4,5cm, có trọng lượng 1kg; 01 đoạn gậy ca keo hình trụ dài 72cm, hai đầu chặt nham nhở, đường kính đầu to là 4,5cm, đường kính đầu nhỏ là 3,5cm, có trọng lượng là 600gam; 01 đoạn gỗ dài 24 cm, đường kính đầu to là 5cm, đầu nhỏ là 3,5cm; 01 đoạn gỗ dài 21cm, đường kính đầu to là 4cm, đầu nhỏ là 3,5cm; 01 mẩu gỗ dài 12cm, đường kính đầu to là 5cm, đầu nhỏ là 4,5cm; 01 cục xi măng cát gạch không rõ hình dạng, có kích thước 10,5x10x5,5cm.

Ngày 05/3/2024 và ngày 08/3/2024, ông Bùi Văn C giao cho Công an xã T 01 con dao quắm bằng kim loại dài 62cm, phần chuôi bằng kim loại sơn màu xanh dài 37cm, phần lưỡi dao hình cung dài 25cm và 01 con dao phát dài 53cm, phần lưỡi dao dài 27,5cm và rộng 4,7cm, phần cán dao bằng gỗ hình trụ dài 25,5cm và đường kính là 3,5cm.

Về thương tích xác định: Nguyễn Thị H bị sưng nề vùng gò má trái và quanh mắt trái, gãy cung tiếp xương gò má trái, gãy cánh lớn xương bướm trái; tại gốc ngón V và ngón III mu bàn tay trái có vết rách da chảy máu. Phạm Thị Bích L bị vết thương hình chữ V dài khoảng 5cm tại mặt sau ngoài cẳng tay trái, sâu khoảng 1cm, bờ nham nhở chảy máu; cổ tay phải sưng nề, nắm đau; vùng lưng có hai vết hằn đỏ, nắn đau.

Ngày 28/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh P giám định xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của H và L.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số 55/KLTTCT/TTPY ngày 03/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận thương tích của Nguyễn Thị H như sau:

“1. Các kết quả chính:

  • - Chấn động não điều trị ổn định: 01%.
  • - Vết sẹo số một vùng mặt: 03%.
  • - Vết sẹo số hai vùng mặt: 03%.
  • - Gãy cung tiếp xương gò má trái: 08%.
  • - Gãy cánh lớn xương bướm trái (xương nền sọ): 16%.
  • - Vết sẹo gốc ngón V bàn tay trái: 01%.
  • - Vết sẹo liên đốt 1,2 ngón III bàn tay trái: 01%.
  • - Hai mắt: Mộng độ III góc trong, loạn thị đây là bệnh lý cũ nên Trung tâm pháp y không xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.

Áp dụng phương pháp cộng tại thông tư: 29,44%

Làm tròn: 29%.

2. Kết luận tại thời điểm giám định:

Căn cứ Thông tư liên tịch số 13/2022/TT-BYT ngày 30/11/2022 của Bộ trưởng Bộ Y ban hành quy trình, biểu mẫu, thời hạn, nhân lực thực hiện giám định pháp y. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Nguyễn Thị H là: 29% (Hai mươi chín phần trăm).

Cơ chế hình thành thương tích:

  • + Gãy cung tiếp xương gò má trái, gãy cánh lớn xương bướm trái, chấn động não: Do tác động của vật cứng gây nên.
  • + Hai vết sẹo vùng mặt: Do bác sĩ phẫu thuật để điều trị.
  • + Vết sẹo gốc ngón V bàn tay trái và vết sẹo liên đốt 1,2 ngón III bàn tay bên trái: Do tác động bởi vật sắc gây nên”.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể số 56 KLTTCT/TTPY ngày 03/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận thương tích của Phạm Thị Bích L như sau:

“1. Các kết quả chính:

  • - Vết sẹo 1/3 dưới mặt sau ngoài cẳng tay trái: 02%.
  • - Tại thời điểm giám định cổ tay phải, vùng lưng nay không để lại tổn thương gì nên Trung tâm pháp y không có căn cứ xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.

2.Kết luận tại thời điểm giám định:

Căn cứ Thông tư liên tịch số 13/2022/TT-BYT ngày 30/11/2022 của Bộ trưởng Bộ Y ban hành quy trình, biểu mẫu, thời hạn, nhân lực thực hiện giám định pháp y. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.

- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Phạm Thị Bích L là: 02% (Hai phần trăm).

- Cơ chế hình thành thương tích:

  • + Vết sẹo 1/3 dưới mặt sau ngoài cẳng tay trái: Do tác động của vật cứng có cạnh sắc gây nên.
  • + Cổ tay phải, vùng lưng không để lại tổn thương gì nên Trung tâm pháp y không xác định được cơ chế gây chấn thương”.

Đối với vết sưng nề ở cổ tay phải, L khai bị H vụt trúng. Tuy nhiên, thời gian L và H du đẩy, giằng co và xô xát diễn ra trong khoảng thời gian dài nên không xác định được L bị thương tích này vào thời điểm nào. Thương tích này không để lại tổn thương gì để làm căn cứ xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của L. Do đó, không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H về thương tích này.

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ 07 đoạn video, 04 ảnh ghi lại diễn biến hành vi L và H gây thương tích cho nhau do bà Chu Thị A giao nộp.

Ngày 04/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện H đã trưng cầu giám định để xác định 07 đoạn video này có bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung không. Tại Kết luận giám định số 558/KL-KTHS ngày 24/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P kết luận:

“Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong các file video gửi giám định”.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Thị Bích L khai: Vết thương ở bàn tay trái của H là do H giằng co con dao chuôi gỗ với L không phải do L ném dao trúng; còn vết thương ở mặt H là do bị L dùng đoạn ca keo vụt trúng tại ruộng; tại cổng nhà L, L chỉ dùng một đoạn cây sắn ném trúng tay H. Còn Nguyễn Thị H khai: Do bị L dùng dao chém nên H dùng đoạn tre bổ đôi để đỡ nên tay L đâm vào đầu đoạn tre. Ngoài ra, H khai tại cổng nhà L, H còn bị L bất ngờ chạy xuống chặn đường và dùng đoạn ca keo vụt vào mặt, làm H bị ngã xuống đất. Sau đó, L còn đứng trên cổng nhà mình ném một đoạn cây ca keo trúng vào đoạn tre bổ đôi H đang cầm trên tay. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội H và L không bồi thường cho nhau khoản tiền nào để bù đắp thiệt hại về sức khỏe do hành vi phạm tội của mình đã gây ra.

Tại Bản án hình sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS đối với bị cáo Phạm Thị Bích L; điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Thị H; điểm a khoản 2 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 BLTTHS; Điều 584, 585, 586, 590, 357 BLDS; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Xử:

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Bích L, Nguyễn Thị H phạm tội "Cố ý gây thương tích".

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Bích L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

4. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Phạm Thị Bích L phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị H số tiền là 62.152.923đ (Sáu mươi hai triệu một trăm năm mươi hai nghìn chín trăm hai mươi ba đồng), gồm:

  • - Chi phí điều trị trong thời gian nằm viện 24.336.923đ (Hai mươi bốn triệu ba trăm ba mươi sáu nghìn chín trăm hai mươi ba đồng).
  • - Chi phí thuê xe đi lại điều trị: 4.000.000đ (Bốn triệu đồng).
  • - Thu nhập bị mất của bản thân khi điều trị (từ ngày 04/3/2024 đến 12/3/2024): 08 ngày x 132.000đ/ngày = 1.056.000đ (Một triệu không trăm năm mươi sáu nghìn đồng)
  • - Tiền bồi thường tổn thất về tinh thần: 14 x 2.340.000đ = 32.760.000đ (Ba mươi hai triệu bẩy trăm sáu mươi nghìn đồng).

Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải bồi thường cho bà Phạm Thị Bích L số tiền là 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo đúng quy định của pháp luật.

Ngày 10/9/2024, bị cáo Nguyễn Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được cải tạo không giam giữ, và đề nghị tăng hình phạt, tăng mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo Phạm Thị Bích L

Ngày 19/9/2024, bị cáo Phạm Thị Bích L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được cải tạo ngoài xã hội.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị H với tư cách bị hại thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo Phạm Thị Bích L. Về bồi thường dân sự, đề nghị bị cáo L bồi thường số tiền 50.000.000đ.

Bị cáo Phạm Thị Bích L giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được cải tạo ngoài xã hội. Với tư cách là người bị hại, bị cáo L xin rút yêu cầu khởi tố, không đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu rút yêu cầu khởi tố của người bị hại Phạm Thị Bích L đối với bị cáo Nguyễn Thị H. Hủy một phần bản án Bản án hình sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ và đình chỉ giải quyết vụ án đối với bị cáo Nguyễn Thị H về tội danh, hình phạt.

Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Bích L, người bị hại Nguyễn Thị H.

Sửa quyết định của Bản án hình sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ đối với bị cáo Phạm Thị Bích L

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Bích L phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Thị Bích L 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Phạm Thị Bích L và bà Nguyễn Thị H đã thỏa thuận như sau:

Bị cáo Phạm Thị Bích L có nghĩa vụ bồi thường cho bà Nguyễn Thị H do hành vi gây thương tích cho bà H tổng số tiền 50.000.000 đ. Xác nhận bị cáo L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002639 ngày 19/9/2024 tại Chi cục thi hành án huyện Hạ Hòa số tiền 30.000.000đ, số tiền còn phải nộp bồi thường 20.000.000đ

Bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ bồi thường cho bà Phạm Thị Bích L do hành vi gây thương tích cho bà L số tiền 5.000.000đ. Xác nhận bà H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002638 ngày 13/9/2024 tại Chi cục thi hành án huyện Hạ Hòa.

Về án phí:

Về án phí dân sự sơ thẩm: bị cáo Phạm Thị Bích L phải chịu 1tiền án phí dân sự trong vụ án hình sự.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phạm Thị Bích L, người bị hại Nguyễn Thị H không phải chịu theo quy định.

Xác nhận bà Nguyễn Thị H đã tự nguyện nộp 500.000đ tiền tạm thu quyết định thi hành án theo biên lai thu tiền số 0002641 ngày 30/9/2024 tại Chi cục thi hành án huyện Hạ Hòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị H, Phạm Thị Bích L trong hạn luật định, đơn kháng cáo hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Trong vụ án này, bị cáo Phạm Thị Bích L, Nguyễn Thị H tham gia tố tụng với hai tư cách vừa là bị cáo vừa là bị hại nên được thực hiện quyền và nghĩa vụ của cả bị cáo và bị hại.

Tại phiên tòa Phúc thẩm, bị hại Phạm Thị Bích L xin rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo Nguyễn Thị H về hành vi gây thương tích cho bị hại Phạm Thị Bích L. Mặc dù không thuộc trường hợp quy định tại điều 359 BLTTHS quy định về hủy bản án và đình chỉ vụ án. Tuy nhiên, bị cáo L bị xét xử về tội “ Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 điều 134 BLHS nên theo quy định tại khoản 2 điều 155, khoản 1 điều 282 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thuộc trường hợp thẩm phán phải đình chỉ giải quyết. Do vậy, đình chỉ vụ án “Cố ý gây thương tích” đối với bị cáo Nguyễn Thị H, hủy phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị H theo quy định.

[2]. Về nội dung kháng cáo:

Xét nội dung bị cáo Phạm Thị Bích L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được cải tạo ngoài xã hội, bị hại Nguyễn Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phạm Thị Bích L và thay đổi yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Nhận thấy:

[2.1] Về căn cứ buộc tội bị cáo Phạm Thị Bích L:

Quá trình điều tra, truy tố, tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm bị cáo Phạm Thị Bích L, và người bị hại Nguyễn Thị H khai nhận: Do mẫu thuẫn trong việc tranh chấp quyền sử dụng đất, vào khoảng từ 15 giờ 51 phút đến 16 giờ 09 phút ngày 04/3/2024. Tại khu E, xã T, huyện H, tỉnh Phú Thọ, bà Nguyễn Thị H đã có hành vi dùng 01 đoạn tre bổ đôi dài 1,02m, có hai cạnh sắc, chiều rộng nhất là 6cm, có trọng lượng 500 gam vụt trúng 1/3 dưới mặt sau ngoài cẳng tay trái của Phạm Thị Bích L làm L bị tổn thương cơ thể 02%. Bị H đánh, L có hành vi dùng 01 con dao phát dài 53cm, phần lưỡi dao dài 27,5cm và rộng 4,7cm, phần cán dao bằng gỗ hình trụ dài 25,5cm và đường kính là 3,5cm ném trúng tay trái bà H, làm bà H bị thương tại gốc ngón V và đốt 1,2 ngón III bàn tay trái. Sau đó, L còn có hành vi dùng 01 đoạn cây ca keo hình trụ dài 72cm, hai đầu chặt nham nhở, đường kính đầu to là 4,5cm, đường kính đầu nhỏ là 3,5cm, có trọng lượng là 600gam ném trúng gò má trái của H, làm H bị gãy cung tiếp xương gò má trái và gãy cánh lớn xương bướm trái, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của H là 29%. Theo quy định, Dao, đoạn cây ca keo mà L sử dụng để gây thương tích đối với bà H và đoạn tre bổ đôi mà bà H sử dụng để gây thương tích đối với L được xác định là hung khí nguy hiểm.

Do vậy có đủ cơ sở để kết luận, Hành vi nêu trên của Phạm Thị Bích L đã phạm tội "Cố ý gây thương tích". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS

Việc Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa đã xét xử đối với bị cáo Phạm Thị Bích L là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất của hành vi phạm tội do bị cáo L gây ra thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo L đã có hành vi dùng 01 con dao phát dài 53cm, ném trúng tay trái bà H, làm bà H bị thương. Sau đó, L còn dùng 01 đoạn cây ca keo ném trúng gò má trái của H, làm H bị gãy cung tiếp xương gò má trái và gãy cánh lớn xương bướm trái, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà H 29%.

Bị cáo đủ tuổi và đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được hành vi nêu trên của bị cáo là vi phạm pháp luật đều xâm phạm đến đến sức khỏe của bà H được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội.

Xét về lỗi của các bên: Xuất phát từ việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa gia đình bà H và gia đình bị cáo L. Việc tranh chấp này đã được Tòa án giải quyết bằng một bản án có hiệu lực pháp luật trong đó xác định quyền sử dụng hợp pháp của gia đình Phạm Thị Bích L và ông Bùi Văn C. Bà H đã có hành vi ngăn cản không cho vợ chồng bị cáo L phát cỏ và dùng đoạn tre bổ đôi đánh gây thương tích trước đối với L. Vì vậy, bị cáo L có hành vi dùng dao, đoạn cây ca keo đánh gây thương tích đối với bà H. Trong vụ án này bà H và bị cáo L đều có lỗi, nhưng nguyên nhân ban đầu được xác định là do hành vi trái pháp luật của bà H, dẫn đến bị cáo L thực hiện hành vi gây thương tích đối với bà H. Do vậy cần xác định lỗi lớn thuộc về người bị hại.

Xét về nhân thân bị cáo L là người có nhân thân tốt. Về các tình tiết tăng nặng, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mặc dù bị cáo L phạm tội lần đầu, nhưng không thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS.

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi xô xát, đánh nhau nhưng bị cáo không nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, không tỏ ra ăn năn hối cải về những hành vi vi phạm pháp luật nên đã không được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định hình phạt tù có thời hạn, xử lý nghiêm để giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong toàn xã hội là có cơ sở.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo L đã nhận thức được hành vi gây thương tích cho bà H là vi phạm pháp luật, tỏ ra ăn năn hối cải về những hành vi vi phạm pháp luật. Mặt khác, trước khi xét xử bị cáo L đã tự nguyên nộp bồi thường cho người bị hại tại cơ quan thi hành án số tiền 30.000.000 đồng, bà H là người bị hại cũng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L đây là những tình tiết giảm nhẹ mới được áp dụng cho bị cáo. Xét về lỗi người bị hại cũng có lỗi nên bị cáo L được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS

[2.2] Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại là bà H kháng cáo yêu cầu tăng trách nhiệm bồi thường dân sự. Tuy nhiên, tại phiên tòa bà H thay đổi nội dung kháng cáo về phần dân sự. Bị cáo L và bà H đã thống nhất thỏa thuận về phần dân sự, cần được ghi nhận cụ thể như sau:

Bị cáo Phạm Thị Bích L có nghĩa vụ bồi thường cho bà Nguyễn Thị H do hành vi gây thương tích cho bà H tổng số tiền 50.000.000 đ. Xác nhận bị cáo L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002639 ngày 19/9/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hạ Hòa số tiền 30.000.000đ, số tiền còn phải nộp bồi thường 20.000.000 đ.

Bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ bồi thường cho bà Phạm Thị Bích L do hành vi gây thương tích cho bà L số tiền 5.000.000đ. Xác nhận bà H đã nộp đủ số tiền 5.000.000đ theo biên lai thu tiền số 0002638 ngày 13/9/2024 tại Chi cục thi hành án huyện Hạ Hòa.

[2.3]. Từ những phân tích trên, căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đặc biệt bị cáo có thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của khoản 1 điều 51 BLHS và đã thật sự tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo L có nơi cư trú ổn định, người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo,... nên chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Bích L, của người bị hại Nguyễn Thị H, sửa phần dân sự và cho bị cáo Phạm Thị Bích L được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tính giăn đe và giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội và chấp nhận yêu cầu rút yêu cầu khởi tố của người bị hại Phạm Thị Bích L đối với bị cáo Nguyễn Thị H. Theo đó, sửa Bản án hình sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.

Việc Tòa án cấp phúc thẩm Hủy một phần bản án Bản án hình sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ đối với bị cáo Nguyễn Thị H về tội danh, hình phạt và đình chỉ giải quyết vụ án là khách quan, không phải do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm.

[3]Quan điểm, đề nghị của người bào chữa cho bị cáo, của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp cần được chấp nhận.

[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo L, người bị hại được chấp nhận nên bị cáo, người bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Trước khi xét xử, bà Nguyễn Thị H đã tự nguyện nộp 500.000đ tiền tạm thu quyết định thi hành án theo biên lai thu tiền số 0002641 ngày 30/9/2024 cần xác nhận.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ khoản 2 điều 155, điểm a khoản 1 điều 282, điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận yêu cầu rút yêu cầu khởi tố của người bị hại Phạm Thị Bích L đối với bị cáo Nguyễn Thị H. Hủy một phần bản án Bản án hình sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ và đình chỉ giải quyết vụ án đối với bị cáo Nguyễn Thị H về tội danh, hình phạt.

Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Bích L, người bị hại Nguyễn Thị H.

Sửa quyết định của Bản án hình sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ đối với bị cáo Phạm Thị Bích L

[2] Căn cứ điểm a khoản 2 điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; khoản 1,2,5 điều 65 BLHS; Khoản 3,4 điều 123; khoản 2 điều 135; khoản 2 điều 136 - BLTTHS; điểm đ khoản 1,2 điều 12, điểm d khoản 2 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Bích L phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Thị Bích L 12 ( mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Phạm Thị Bích L cho UBND xã T, huyện H, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Phạm Thị Bích L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 của luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Phạm Thị Bích L cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Phạm Thị Bích L phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Phạm Thị Bích L và bà Nguyễn Thị H đã thỏa thuận như sau:

Bị cáo Phạm Thị Bích L có nghĩa vụ bồi thường cho bà Nguyễn Thị H do hành vi gây thương tích cho bà H tổng số tiền 50.000.000 đ (Năm mươi triệu đồng). Xác nhận bị cáo L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002639 ngày 19/9/2024 tại Chi cục thi hành án huyện Hạ Hòa số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng), số tiền còn phải nộp bồi thường 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).

Bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ bồi thường cho bà Phạm Thị Bích L do hành vi gây thương tích cho bà L số tiền 5.000.000đ. Xác nhận bà H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002638 ngày 13/9/2024 tại Chi cục thi hành án huyện Hạ Hòa.

[4] Về án phí:

Về án phí dân sự sơ thẩm: bị cáo Phạm Thị Bích L phải chịu 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) tiền án phí dân sự trong vụ án hình sự.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phạm Thị Bích L, người bị hại Nguyễn Thị H không phải chịu theo quy định.

Xác nhận bà Nguyễn Thị H đã tự nguyện nộp 500.000đ tiền tạm thu quyết định thi hành án theo biên lai thu tiền số 0002641 ngày 30/9/2024 tại Chi cục thi hành án huyện Hạ Hòa.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - TAND H. Hạ Hòa;
  • - VKSND H. Hạ Hòa;
  • - Công an H. Hạ Hòa;
  • - Chi cục THADS H. Hạ Hòa;
  • - TB UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thùy Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HS-PT ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 71/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Bích L và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger