Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM TÂN

TỈNH BÌNH THUẬN


Bản án số: 71/2024/HSST

Ngày: 31/10/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Đình Khương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tơ và bà Trà Thị Thanh Hoa.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân tham gia phiên tòa: Ông Lê Phi Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo;

1. Trần Đình T (Tên gọi khác: không), sinh năm: 2002, tại Bình Thuận.

  • Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam.
  • Cha: Trần Đình T1, sinh năm 1961; mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1957. Cùng trú tại: thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Gia đình có 11 chị em; bị cáo là con thứ 10.
  • Vợ: Hồ Thị Da V, sinh năm 2005, nghề nghiệp: làm nông, trú tại thôn H, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • Con: Trần Đình Thiên P, sinh năm 2023.
  • Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo Trần Đình T bị tạm giữ từ ngày 08/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ của Công an huyện H.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Gia Huy V1 (tên gọi khác: không), sinh năm: 1989, tại Tp ..

  • Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 141/30/3A1 đường C, phường P, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
  • Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam.
  • Cha: Nguyễn Huy T2 (chết); Mẹ: Lưu Thị Thiếu M, sinh năm 1950. Trú tại ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Gia đình có 04 chị em; bị cáo là con út.
  • Vợ, con: chưa có.
  • Tiền án, tiền sự: không.
  • Nhân thân: Tại bản án số 91/2011/HSST ngày 30/6/2011 bị TAND quận 9, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/8/2016 và các quyết định khác của bản án (đã được xóa án tích).

Nguyễn Gia Huy V1 bị tạm giữ từ ngày 08/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ của Công an huyện H.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Những người tham gia tố tụng:

  1. Bị hại:
    • Bà Ngô Thị M1, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (có mặt)
    • Ông Ngô Văn H1, sinh năm 2001. Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. (có mặt)
  2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Nguyễn Á, sinh năm 1990. Địa chỉ: Khu phố G, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào sáng ngày 05/6/2024, Trần Đình T một mình điều khiển xe mô tô đi trên các tuyến đường thuộc xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến nhà chị dâu của T là bà Ngô Thị M1, trú tại thôn G, xã T, huyện H. Thấy trước sân nhà bà M1 có dựng xe mô tô loại Wave màu đỏ-đen-bạc biển số 86B5-376.24; sát bên nhà bà M1 là nhà ông Ngô Văn H1 (em ruột bà M1) cũng dựng xe mô tô loại Winner X màu đen-vàng biển số 86B5-363.77 trước sân. Do T biết thông tin vợ chồng bà M1 đã đi về quê ở Quảng Bình và cũng biết nhà ông H1 thường ngủ sớm, xe mô tô thì dựng ngoài sân không dắt vào nhà nên T xác định tối nay sẽ trộm cắp hai xe mô tô trên.

Qua điều tra, đã xác định giữa Trần Đình TNguyễn Gia Huy V1 là bạn bè quen biết với nhau nên sau khi xác định được mục tiêu, T đã về nhà trọ của Nguyễn Gia Huy V1 ở xã T, thị xã L rồi kể cho V1 nghe về ý định của T và T rủ V1 cùng đi trộm hai xe mô tô nêu trên nhưng V1 không đồng ý.

Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, T liên hệ với dịch vụ cho thuê xe để thuê xe ô tô (đi trộm cắp tài sản). Được người quen giới thiệu lại nên anh Trần Nhân A, trú tại thôn B, xã S, huyện H điện thoại cho T thì được biết T thuê xe từ xã T, thị xã L đi xã T, huyện H chở 02 xe mô tô về lại xã T thì Nhân A đồng ý với số tiền thuê xe là 400.000đồng. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, Nhân A điều khiển xe ô tô bán tải biển số 86C-156.54 đến đầu đường nhà trọ của V1 (theo sự chỉ dẫn của T) chở T rồi đi đến nhà bà M1, ông H1. Trên đường đi, T nói với Nhân A người nhà đi nước ngoài nên đem 02 chiếc xe mô tô cho đứa em ở xã T sử dụng, do đó Nhân A không biết ý định trộm cắp tài sản của T. Khoảng 23 giờ cùng ngày thì đến nơi, thấy không có người nên T mở cổng nhà bà M1 dắt xe mô tô biển số 86B5-376.24 đưa ra ngoài, tiếp đó T qua nhà ông H1 mở cổng nhà dắt xe mô tô biển số 86B5-363.77 đưa ra ngoài rồi cùng với Nhân A đưa hai xe mô tô lên xe bán tải, T kêu Nhân A quay lại nhà trọ của V1. Đến nơi, T điện thoại cho V1 ra ngoài phụ dắt hai xe mô tô vừa trộm cắp được vào nhà trọ của V1 cất giấu và nói V1 trả tiền xe cho Nhân A. Lúc này, V1 biết hai xe mô tô này do T trộm cắp mà có nhưng vẫn phụ dắt xe vào phòng trọ của V1 cất giấu, V1 trả tiền xe cho Nhân A với số tiền 500.000 đồng. Sau đó, V1 và T ngủ tại phòng trọ của V1, trong phòng trọ còn có người yêu của V1 là Nguyễn Thị Ánh T3, sinh năm 2002, nơi thường trú; ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang nhưng T3 không biết hai xe mô tô trên là do trộm cắp mà có.

Khoảng 05 giờ sáng ngày 06/6/2024, Vũ thức dậy tháo dây điện đấu nối để nổ máy xe mô tô hiệu Winner (do không có chìa khóa), đồng thời Vũ tháo biển số xe của 02 xe mô tô đổi cho nhau. V1 điều khiển xe mô tô loại Winner X, T điều khiển xe mô tô loại Wave đến nhà Đặng Ánh S, sinh năm 1993 tại khu phố G, phường T, thị xã L cầm cố nhưng ông S không đồng ý vì xe Winner X không có chìa khóa nên V1 và T đi đến rừng tràm khu kinh tế (thị xã L). Tại đây, cả hai lột tem xe Winner X rồi mua sơn màu đen, sơn lại xe mô tô này thành màu đen để chủ sở hữu không nhận diện được xe.

Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, V1 liên lạc với một người bạn tên S1 (không rõ nhân thân, lai lịch) nhờ S1 tìm chỗ cầm cố xe mô tô loại Wave, S1 hỏi xe của ai thì V1 nói xe của V1 thì S1 đồng ý. V1 và S1 đem xe mô tô Wave đến nhà Đặng Nguyễn Á (Đ), sinh năm 1990 tại khu phố G, phường T, thị xã L, do không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên ông Á đồng ý cầm cố với số tiền 2.500.000 đồng. V1 cho S1 300.000 đồng, số tiền còn lại thì V1 và T tiêu xài hết. Sau đó, V1 và T quay lại nhà ông S cầm cố xe mô tô Winner X nhưng ông S không đồng ý nên V1 gửi xe mô tô này lại nhà ông S rồi bỏ đi.

Đến 06 giờ 30 phút ngày 07/6/2024, biết hành vi của mình đã bị phát hiện nên Trần Đình TNguyễn Gia Huy V1 đã đến Công an xã T đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội, đồng thời đã chỉ dẫn để Công an xã T đến nhà ông Đặng Ánh S thu giữ xe mô tô Winner X và đến nhà ông Đặng Nguyễn Á thu giữ xe mô tô hiệu Wave.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 32 ngày 13/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H kết luận:

  • Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển số 86B5-376.24 có giá trị là 12.500.000 đồng;
  • Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winner X, biển số 86B5-363.77 có giá trị là 23.750.000 đồng;

* Vật chứng thu giữ: Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển số 86B5-376.24 và xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winner X, biển số 86B5-363.77 đã trả lại cho chủ sở hữu.

* Về phần dân sự: Bị cáo Trần Đình T đã tác động gia đình bồi thường cho ông Ngô Văn H1 số tiền 4.000.000đồng và bồi thường cho bà Lê Hồ Mỹ T4 (vợ ông Đặng Nguyễn Á) số tiền 2.500.000đồng. Bà Ngô Thị M1 không có yêu cầu bồi thường và đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Đình T.

Tại Bản cáo trạng số 66/CT-VKS ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Trần Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Nguyễn Gia Huy V1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo, như nội dung Cáo trạng. Đồng thời xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khi quyết định mức hình phạt đối với các bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Bị cáo Trần Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Đình T từ 01 năm tù đến từ 01 năm 06 tháng tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Bị cáo phạm tội Nguyễn Gia Huy V1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Áp dụng khoản 1 Điều 323; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Gia Huy V1 từ 01 năm tù đến từ 01 năm 06 tháng tù.

* Ý kiến của các bị cáo: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và nhất trí với các tình tiết vụ án và điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân đã viện dẫn trong Cáo trạng. Các bị cáo không tranh luận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

* Ý kiến của các bị hại: Không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Đình T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan Điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên toà vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đặng Nguyễn Á. Tuy nhiên, ông Đặng Nguyễn Á đã trình bày lời khai, nhận tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm nên sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử.
  3. [3] Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Đình TNguyễn Gia Huy V1 đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sơ xác định:

    Các bị cáo Trần Đình TNguyễn Gia Huy V1 là những người có đủ năng lực trách nhiệm dân sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật; Thế nhưng, với bản chất tham lam, tư lợi và lười lao động, lại muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể: Sáng ngày 05/6/2024, Trần Đình T một mình điều khiển xe mô tô đi trên các tuyến đường thuộc xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến nhà chị dâu của T là bà Ngô Thị M1, trú tại thôn G, xã T, huyện H; thấy trước sân nhà bà M1 có dựng xe mô tô loại Wave màu đỏ-đen-bạc biển số 86B5-376.24, sát bên nhà bà M1 là nhà anh Ngô Văn H1, sinh năm 2001 (em ruột bà M1) cũng dựng xe mô tô loại Winner X màu đen-vàng biển số 86B5-363.77 trước sân. Do biết vợ chồng bà M1 đã đi về quê ở Quảng Bình và biết nhà ông H1 thường ngủ sớm, xe mô tô thì dựng ngoài sân không dắt vào nhà nên T xác định tối nay sẽ trộm cắp hai xe mô tô trên. Sau khi xác định được mục tiêu, T về nhà trọ của Nguyễn Gia Huy V1 ở xã T, thị xã L kể cho V1 nghe về ý định của T, T rủ V1 cùng đi trộm hai xe mô tô trên nhưng V1 không đồng ý.

    Khoảng 22 giờ cùng ngày, T liên hệ thuê xe ô tô của anh Trần Nhân A để đi trộm cắp tài sản với giá là 400.000 đồng. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, Nhân A điều khiển xe ô tô bán tải biển số 86C-156.54 đến đầu đường nhà trọ của V1 (theo sự chỉ dẫn của T) chở T rồi đi đến nhà bà M1, ông H1. Trên đường đi, T nói với Nhân A người nhà đi nước ngoài nên đem 02 chiếc xe mô tô cho đứa em ở xã T sử dụng, do đó Nhân A không biết ý định trộm cắp tài sản của T. Khoảng 23 giờ cùng ngày thì đến nơi, thấy không có người nên T mở cổng nhà bà M1 dắt xe mô tô biển số 86B5-376.24 đưa ra ngoài, tiếp đó T qua nhà ông H1 mở cổng nhà dắt xe mô tô biển số 86B5-363.77 đưa ra ngoài rồi cùng với Nhân A đưa hai xe mô tô lên xe bán tải, T kêu Nhân A quay lại nhà trọ của V1. Đến nơi, T điện thoại cho V1 ra ngoài phụ dắt hai xe mô tô vừa trộm cắp được vào nhà trọ của V1 cất giấu và nói V1 trả tiền xe cho Nhân A. Lúc này, V1 biết hai xe mô tô này do T trộm cắp mà có nhưng vẫn phụ dắt xe vào phòng trọ của V1 cất giấu, V1 trả tiền xe cho Nhân A với số tiền 500.000 đồng. Đến khoảng 05 giờ sáng ngày 06/6/2024, Vũ thức dậy tháo dây điện đấu nối để nổ máy xe mô tô hiệu Winner (do không có chìa khóa), đồng thời Vũ tháo biển số xe của 02 xe mô tô đổi cho nhau. V1 điều khiển xe mô tô loại Winner X, T điều khiển xe mô tô loại Wave đến nhà Đặng Ánh S, sinh năm 1993 tại khu phố G, phường T, thị xã L cầm cố nhưng anh S không đồng ý vì xe Winner X không có chìa khóa nên V1T đi đến rừng tràm khu kinh tế (thị xã L). Tại đây, cả hai lột tem xe Winner X rồi mua sơn màu đen sơn lại xe mô tô này thành màu đen để chủ sở hữu không nhận diện được xe.

    Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, V1 liên lạc với một người bạn tên S1 (không rõ nhân thân, lai lịch) nhờ S1 tìm chỗ cầm cố xe mô tô loại Wave, S1 hỏi xe của ai thì V1 nói xe của V1 thì S1 đồng ý. V1 và S1 đem xe mô tô Wave đến nhà Đặng Nguyễn Á (Đ), trú tại khu phố G, phường T, thị xã L, do không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên anh Á đồng ý cầm cố với số tiền 2.500.000đồng. V1 cho S1 300.000 đồng, số tiền còn lại V1T tiêu xài hết. Sau đó, V1T quay lại nhà anh S cầm cố xe mô tô Winner X nhưng anh S không đồng ý nên V1 gửi xe mô tô này lại nhà anh S rồi bỏ đi.

    Đến 06 giờ 30 phút ngày 07/6/2024, biết hành vi của mình đã bị phát hiện nên Trần Đình TNguyễn Gia Huy V1 đã đến Công an xã T đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội, đồng thời đã chỉ dẫn để Công an xã T đến nhà anh Đặng Ánh S thu giữ xe mô tô Winner X và đến nhà anh Đặng Nguyễn Á thu giữ xe mô tô hiệu Wave.

  4. [4] Tại bản kết luận định giá tài sản số 32 ngày 13/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện H kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển số 86B5-376.24 có giá trị là 12.500.000 đồng; Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winner X, biển số 86B5-363.77 có giá trị là 23.750.000 đồng. Tổng trị giá 02 xe mô tô bị Trần Đình T chiếm đoạt là 36.250.000 đồng. Do đó, hành vi lén lút trộm cắp tài sản có giá trị nêu trên của bị cáo Trần Đình T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
  5. [5] Sau khi trộm cắp được hai xe mô tô trên, Trần Đình T đã đem đến nhà trọ của Nguyễn Gia Huy V1 tại xã T, thị xã L. Mặc dù biết rõ đây là hai xe mô tô do T trộm cắp mà có nhưng V1 đã đấu nối dây điện để nổ máy xe mô tô loại Winner X, thay đổi màu sơn xe Winner X, tráo đổi biển số của hai xe mô tô cho nhau. T và V1 đã đem xe mô tô loại Wave cầm cố cho anh Đặng Nguyễn Á lấy số tiền 2.500.000 đồng chia nhau tiêu xài, đối với xe mô tô loại Winner X, T và V1 đã hai lần đem đến nhà anh Nguyễn Ánh S2 cầm cố nhưng anh S2 không đồng ý. Do đó, hành vi nêu trên của Nguyễn Gia Huy V1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân truy tố bị cáo Nguyễn Gia Huy V1 về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
  6. [6] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi này không chỉ vi phạm pháp luật mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử cần xử lý nghiêm và tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để góp phần răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
  7. [7] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Ngay trong ngày 05/6/2024, bị cáo Trần Đình T đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T đã thành khẩn khai báo, tích cực tác động cha mẹ bồi thường thiệt hại và các bị hại đã có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Trần Đình T. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Trần Đình T đã ra đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Gia Huy V1 thành khẩn khai báo hành vi phạm tội. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo V1 đã ra đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử nghĩ nên chiếu cố, giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

  8. [8] Đối với Trần Nhân A không biết Trần Đình T thuê xe ô tô của Nhân A để đi trộm cắp tài sản nên không có căn cứ để xử lý hình sự.

    Đối với Nguyễn Thị Ánh T3 ở chung phòng trọ với Nguyễn Gia Huy V1 nhưng phòng trọ là do V1 thuê, T3 không biết hai xe mô tô là do T trộm, T3 không tham gia vào việc tiêu thụ tài sản và không hưởng lợi gì về số tiền do các bị cáo cầm cố xe nên không có căn cứ để xử lý hình sự.

    Về đối tượng tên S1, khi được V1 nhờ tìm chỗ cầm cố xe S1 có hỏi xe của ai thì V1 nói xe của V1, S1 không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý hình sự.

    Đối với ông Đặng Nguyễn Á khi nhận cầm cố xe mô tô thì không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT Công an huyện H không xử lý là đúng pháp luật.

  9. [9] Vật chứng thu giữ gồm: Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển số 86B5-376.24 và xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winner X, biển số 86B5-363.77 đã trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  10. [10] Về phần dân sự: Bị cáo Trần Đình T đã tác động gia đình bồi thường cho ông Ngô Văn H1 số tiền 4.000.000 đồng và bồi thường cho bà Lê Hồ Mỹ T4 (vợ ông Đặng Nguyễn Á) số tiền 2.500.000 đồng. Ông Ngô Văn H1 và bà Ngô Thị M1 không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  11. [11] Các bị cáo Trần Đình TNguyễn Gia Huy V1 phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Nguyễn Gia Huy V1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
    • Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Trần Đình T 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 08/6/2024.
    • Căn cứ khoản 1 Điều 323; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Gia Huy V1 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 08/6/2024.
  2. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Buộc các bị cáo Trần Đình TNguyễn Gia Huy V1, mỗi người phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho các bị cáo, bị hại biết, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

*Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh BT;
  • - VKSND, CA huyện Hàm Tân;
  • - Cơ quan THAHS tỉnh Bình Thuận;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Hàm Tân;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Chi cục THADS Hàm Tân;
  • - UBND địa phương các bị cáo cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Đình Khương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HSST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự

  • Số bản án: 71/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Trần Đình Tấn phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Nguyễn Gia Huy Vũ phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. - Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Đình Tấn 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 08/6/2024. - Căn cứ khoản 1 Điều 323; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Gia Huy Vũ 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 08/6/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger