TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 71/2024/HNGĐ-ST Ngày 09-10-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Xuyến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Tiến;
Ông Nguyễn Hữu Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 114/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 48/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ma Thị Y, sinh năm 1996, nơi ĐKHKTT: Thôn V, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng, nơi ở hiện nay: Thôn Đ, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Đoàn Văn T, sinh năm 1986, nơi cư trú: Thôn V, xã B, huyện T, Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Ma Thị Y trình bày: Chị và anh Đoàn Văn T tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B ngày 13/02/2014. Anh chị sống hoà thuận đến năm 2019 thì nảy sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không hạnh phúc. Do mâu thuẫn căng thẳng nên anh chị đã sống ly thân mỗi người một nơi từ năm 2019 đến nay, không quan tâm nhau. Xác định vợ chồng không còn tình cảm, chị Y yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn anh T. Anh chị có 01 con chung là Đoàn Gia N, sinh ngày 18/3/2014, đang sống cùng anh T. Khi ly hôn, chị Y đề nghị Toà án giao con N cho anh T nuôi dưỡng; việc cấp dưỡng cho con và tài sản chung, anh chị tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Đoàn Văn T trình bày: Xác nhận về việc kết hôn và con chung giữa anh và chị Ma Thị Y như chị Y trình bày. Giữa anh và chị Y không có mâu thuẫn gì mà do vợ chồng làm việc xa nhau, chị Y muốn ly hôn; anh đã thuyết phục chị Y về đoàn tụ nhưng chị Y không đồng ý. Do đó anh không đồng ý ly hôn. Con chung Đoàn Gia N, sinh ngày 18/3/2014 hiện đang sống cùng anh; trường hợp phải ly hôn, anh nhận nuôi con, không yêu cầu Toà án giải quyết về việc cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung, anh và chị Y có tài sản chung là nhà, đất tại thôn Đ, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang nhưng anh không yêu cầu Toà án giải quyết trong vụ án này. Anh hiện đang làm đầu bếp cho nhà hàng, thu nhập ổn định, trung bình khoảng 15 triệu đồng/tháng, đảm bảo việc nuôi con.
Tài liệu xác minh tại gia đình và địa phương thể hiện: Chị Ma Thị Y và anh Đoàn Văn T tự nguyện kết hôn với nhau từ năm 2014. Quá trình chung sống, giữa anh chị xảy ra mâu thuẫn do trong thời gian chị Y đi làm ăn xa đã có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, vợ chồng xa cách, không quan tâm nhau. Gia đình đã hoà giải, động viên anh chị đoàn tụ nhưng chị Y không đồng ý. Anh chị có 01 con chung là Đoàn Gia N, sinh ngày 18/3/2014 đang sống cùng anh T. Trường hợp Toà án xử cho anh T và chị Y ly hôn, gia đình anh T đề nghị giao cháu N cho anh T nuôi dưỡng và cam kết đảm bảo về chỗ ở, hỗ trợ anh T trông nom, chăm sóc cháu N. Con Đoàn Gia N có nguyện vọng được sống cùng bố.
Ý kiến của Kiểm sát viên:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình, không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải theo thông báo của Tòa án, vi phạm khoản 15, khoản 16 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
Do mâu thuẫn giữa chị Y và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Y, xử cho chị Y được ly hôn anh T; giao con chung Đoàn Gia N, sinh ngày 18/3/2014 cho anh T trực tiếp nuôi đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không xem xét, giải quyết về cấp dưỡng cho con và tài sản chung do đương sự không yêu cầu. Chị Y là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; chị Y và anh T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Chị Ma Thị Y khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Đoàn Văn T, cư trú tại thôn V, xã B, huyện T nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
[2] Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt tại phiên tòa không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Y và anh T.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Ma Thị Y và anh Đoàn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B ngày 13/02/2014 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Lời khai của nguyên đơn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Chị Y và anh T xảy ra mâu thuẫn nghiêm trọng, gia đình đã hoà giải nhưng không thành; vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi, không quan tâm nhau. Anh T không đồng ý ly hôn nhưng không tham gia phiên hoà giải do Toà án tổ chức, không thể hiện thiện chí muốn vợ chồng đoàn tụ; chị Y giữ nguyên quan điểm yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn. Do đó, có đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa chị Y và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; yêu cầu ly hôn của chị Y là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận, xử cho chị Y được ly hôn anh T.
[4] Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Đoàn Gia N, sinh ngày 18/3/2014. Xét thấy từ khi vợ chồng ly thân, con chung sống cùng anh T; anh T có công việc và thu nhập, được sự hỗ trợ của bố mẹ để đảm bảo việc nuôi con. Việc giao con cho anh T nuôi dưỡng sẽ bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con, phù hợp với ý kiến của chị Y, anh T và nguyện vọng của con. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, giao con Đoàn Gia N, sinh ngày 18/3/2014 cho anh T trực tiếp nuôi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, chị Y và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết; xét thấy quyền lợi của con vẫn được đảm bảo nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Chị Y và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Chị Y là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị Y và anh T có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (chị Ma Thị Y):
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Ma Thị Y được ly hôn anh Đoàn Văn T.
- Về con chung: Giao con Đoàn Gia N, sinh ngày 18/3/2014 cho anh Đoàn Văn T trực tiếp nuôi. Không giải quyết việc cấp dưỡng cho con do chị Y và anh T không yêu cầu. Thời hạn nuôi con tính từ ngày 09 tháng 10 năm 2024 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Không xem giải quyết do các đương sự không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Chị Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Chị Y đã nộp đủ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009066 ngày 15/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng.
Chị Y và anh T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Xuyến |
Bản án số 71/2024/HNGĐ-ST ngày 09/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 71/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LH Y-T
