Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM THÀNH

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/HS-ST

Ngày: 30-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Hà.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Bộ và ông Phạm Văn Chỉ.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Bẩy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Vui- Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024, các Quyết định hoãn phiên tòa số: 44 ngày 27 tháng 8 năm 2024, số: 46A ngày 04 tháng 9 và Thông báo mở lại phiên tòa số 01 ngày 24 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn V, sinh năm 1987 tại huyện K, tỉnh Hải Dương.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn N, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị H1; có vợ là Vũ Thị H2 và 4 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo V: Ông Vũ Văn H3- Luật sư của Công ty L. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2001 (đã chết)

- Người đại diện theo pháp luật của bị hại:

  1. Ông Nguyễn Văn O, sinh năm 1978 (là bố đẻ của anh Đ).
  2. Bà Phạm Thị T, sinh năm 1979 (là mẹ đẻ của anh Đ).

Người đại diện theo ủy quyền của ông O và bà T: ông Nguyễn Văn H4, sinh năm 1976.

Đều cư trú: thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương. (Vắng mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đoàn D, sinh năm 1985.

Nơi cư trú: số A, đường V, phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương. (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn V có giấy phép lái xe ôtô hạng FC số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh Q cấp ngày 04/11/2019 (có giá trị đến ngày 04/11/2024). Ngày 02/5/2024, V ký hợp đồng lao động lái xe với hộ kinh doanh Nguyễn Đoàn D do anh Nguyễn Đoàn D làm chủ hộ. Ngày 14/5/2024, theo sự phân công của anh D, V điều khiển xe ôtô đầu kéo biển số 34G-000.54, phía sau kéo rơ moóc biển số 34R-038.49 trọng tải 32.700kg, chở 01 container chứa 27.210kg than cám từ thị xã K ra đường Q chiều Hải Phòng - Hà Nội đi thành phố H, tỉnh Hải Dương để giao hàng. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi rửa xe tại bãi rửa của anh Bùi Văn T1 ở bên phải chiều đường H - Hà Nội tại khu vực K Quốc lộ E thuộc thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương, V điều khiển xe chuyển hướng sang trái ra đường Q để tiếp tục hành trình. Đây là đoạn đường thẳng, mặt đường được trải nhựa phẳng, phân chia thành 03 làn đường, gồm: làn dành cho xe ô tô và làn dành cho xe ô tô, mô tô, rộng 7,03m được ngăn cách bởi vạch sơn trắng đứt đoạn; làn dành cho xe mô tô, xe máy và thô sơ rộng 2,6m, được ngăn cách bởi vạch sơn trắng liền. Tính theo chiều Hải Phòng - Hà Nội, giáp mép đường bên trái là dải phân cách giữa hai chiều đường gắn bờ lốc bê tông cao so với mặt đường 28,5cm, trụ thép và tôn lượn sóng hai bên, giữa trồng cây xanh; giáp mép đường bên phải là phần lưu không được dải đất đá rộng 6,9m, tại đây có lối mở vào bãi rửa xe, khu vực này không có hệ thống biển báo hiệu đường bộ. Lúc này, trời tối, không mưa, mặt đường khô ráo, V điều khiển xe đang đi chếch chéo, phần đầu xe trên làn đường dành cho xe ô tô, mô tô; phần đuôi rơ moóc trên làn đường dành cho xe mô tô, xe máy và thô sơ. Do không chú ý quan sát, chuyển làn đường không đảm bảo an toàn và không bật đèn tín hiệu báo trước, dẫn đến phần cạnh bên trái rơ moóc (gồm: lốp và la giăng bánh ngoài của dàn lốp đôi thứ 6, lốp bánh ngoài của dàn lốp đôi thứ 5 tính từ đầu xe về cuối xe) va chạm với phần bên phải xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airblade, sơn màu đen, biển số 34B4-998.09 (gồm: lốp bánh trước, cánh yếm, để chân trước, ông xả, sườn xe) do anh Nguyễn Văn Đ điều khiển đi trên làn đường dành cho xe ô tô, môtô hướng Hải Phòng - Hà Nội. Phần mũ bảo hiểm màu đen đội trên đầu và người anh Đ va đập vào bên trái khung sàn vỏ container, thanh kim loại đinh bắt giữ giữa sàn rơ moóc với sàn cỏ container và chắn bùn của các dàn lốp đôi thứ 4, 5, 6. Sau va chạm, xe mô tô của anh Đ bị đổ nghiêng trái, trượt rê sang làn đường dành cho xe ô tô, anh Đ bị ngã văng khỏi xe ra sát dải phân cách giữa hai chiều đường, chết tại hiện trường, xe mô tô bị hư hỏng.

Tại biên bản khám nghiệm tử thi và Kết luận giám định tử thi số 140/KLGĐTT-KTHS ngày 24/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh H thể hiện: Nạn nhân Nguyễn Văn Đ tử vong là do chấn thương sọ não hở (vỡ xương hộp sọ; thoát não). Tổn thương dẫn đến nguyên nhân tử vong của nạn nhân do vật tày gây nên là phù hợp.

Tại Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐG ngày 04/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện K kết luận: Xe mô tô biển số 34B4-998.09 bị hư hỏng, thiệt hại trị giá 5.041.000 đồng.

Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn và ma tuý đối với Nguyễn Văn V ngày 14/5/2024 thể hiện: Trong hơi thở của V không có nồng độ cồn và âm tính đối với các chất ma tuý.

Tại các bản Kết luận giám định số 3689/KL-KTHS ngày 22/5/2024 và số 3660/KL-KTHS ngày 18/6/2024 của V1 Bộ C kết luận: Trong mẫu máu ghi thu của nạn nhân Nguyễn Văn Đ gửi giám định có tìm thấy ethanol (cồn), nồng độ ethanol là 176mg/100 ml máu. Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy trong mẫu máu ghi thu của Nguyễn Văn Đ gửi giám định.

Tại Cáo trạng số: 56/CT-VKS ngày 31/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện K, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và xin được hưởng mức án thấp nhất.

Người bào chữa cho bị cáo V đề nghị cho bị cáo được hưởng 12 tháng tù cho hưởng án treo và không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo.

Đại diện VKSND huyện Kim Thành giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Áp dụng điểm a khoản 1 và khoản 5 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 41, khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử phạt bị cáo V từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã L, thị xã K, tỉnh Hải Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Hình phạt bổ sung: đề nghị cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong, không đặt ra xem xét.

Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, VKSND huyện Kim Thành, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn V tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm các phương tiện giao thông, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 14/5/2024, tại K Quốc lộ E chiều đường H - Hà Nội, thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn V (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ôtô đầu kéo biển số 34G-000.54, phía sau kéo rơ mooc biển số 34R-038.49 di chuyển chếch chéo hướng Hải Phòng - Hà Nội từ lề đường bên phải và làn ra làn đường dành cho xe mô tô, xe máy và thô sơ ra làn đường dành cho xe ô tô, mô tô. Do không chú ý quan sát, chuyển làn đường không đảm bảo an toàn và không bật đèn tín hiệu báo trước, dẫn đến phần cạnh bên trái rơ moóc của xe ô tô do V điều khiển va chạm với phần bên phải xe mô tô biển số 34B4-998.09 do anh Nguyễn Văn Đ điều khiển đi thẳng trên làn đường dành cho xe ô tô, môtô hướng Hải Phòng - Hà Nội. Hậu quả: làm anh Đ bị chết tại hiện trường; xe mô tô bị hư hỏng, trị giá thiệt hại là 5.041.000 đồng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng khi điều khiển xe ô tô tham gia giao thông đường bộ đã vi phạm vào khoản 23 Điều 8, Điều 13 Luật Giao thông đường bộ, gây hậu quả làm 1 người chết nên đã đủ yếu tố cầu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, VKSND huyện Kim Thành truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Để có căn cứ áp dụng hình phạt, HĐXX cần đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, đã bồi thường cho gia đình bị hại. Bị hại cũng có một phần lỗi điều khiển xe mô tô khi trong máu có nồng độ cồn, đã thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, tay lái, vi phạm khoản khoản 8, 23 Điều 8, Điều 12 Luật giao thông đường bộ; đại diện của bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo V là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội, mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương, ấn định thời gian thử thách cũng đủ giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội vẫn cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe. Tuy nhiên, do bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải nuôi 4 con nên cần áp dụng mức thấp nhất của khoản 5 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình anh Nguyễn Văn Đ số tiền là 17.000.000 đồng. đại diện theo ủy quyền của những người thừa kế theo pháp luật của anh Đ đã nhận số tiền bồi thường và không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy, HĐXX không xem xét về trách nhiệm dân sự.

[5]. Do bị cáo bị cấm hành nghề lái xe nên tiếp tục quản lý Giấy phép lái xe của bị cáo đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án. Giấy phép lái xe của bị cáo hết hạn vào ngày 04/11/2024 nên không cần thiết phải trả lại bị cáo.

[6] Về án phí: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 và khoản 5 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 30/9/2024.

    Giao bị cáo Nguyễn Văn V cho Ủy ban nhân dân xã L, thị xã K, tỉnh Hải Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

  3. Về hình phạt bổ sung: cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  4. Tiếp tục quản lý 1 Giấy phép lái xe của bị cáo V đang lưu trong hồ sơ vụ án.
  5. Về án phí: bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện theo pháp luật của bị hại có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND huyện Kim Thành;
  • - Cơ quan CSĐT- Công an huyện Kim Thành;
  • - Công an THAHS- Công an huyện Kim Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Kim Thành;
  • - Bị cáo;
  • - Đại diện của bị hại;
  • - Người bào chữa của bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Tòa án, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 71/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 14/5/2024, tại Km 68 Quốc lộ 5 chiều đường Hải Phòng - Hà Nội, thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn V (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ôtô đầu kéo biển số 34G-000.54, phía sau kéo rơ mooc biển số 34R-038.49 di chuyển chếch chéo hướng Hải Phòng - Hà Nội từ lề đường bên phải và làn ra làn đường dành cho xe mô tô, xe máy và thô sơ ra làn đường dành cho xe ô tô, mô tô. Do không chú ý quan sát, chuyển làn đường không đảm bảo an toàn và không bật đèn tín hiệu báo trước, dẫn đến phần cạnh bên trái rơ moóc của xe ô tô do V điều khiển va chạm với phần bên phải xe mô tô biển số 34B4-998.09 do anh Nguyễn Văn Đ điều khiển đi thẳng trên làn đường dành cho xe ô tô, môtô hướng Hải Phòng - Hà Nội. Hậu quả: làm anh Đ bị chết tại hiện trường; xe mô tô bị hư hỏng, trị giá thiệt hại là 5.041.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger