|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 75/2024/HS-ST Ngày: 25-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đinh Thị Hồng Thơm;
Ông Vũ Xuân Thùy.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Mai Vi Hoa - Thư ký Toà án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Đặng Xuân Tự - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 73/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Đỗ Viết K, sinh ngày 01/01/1965, nơi sinh và nơi cư trú: xóm F, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Viết Đ và bà Bùi Thị T (đều đã chết); bị cáo có vợ là Ngô Thị B và có 01 con, sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 10/01/1983, bị UBND tỉnh H đưa vào trường G1 do có hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 10/5/2024, đến ngày 19/5/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Tại phiên toà bị cáo có mặt.
2. Phan Văn B1, sinh ngày 30/5/1995, nơi sinh và nơi cư trú: xóm B, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T1 (đã chết) và bà Vũ Thị G; bị cáo chưa có vợ con;
Tiền án:
- Ngày 17/12/2014, bị Toà án nhân dân huyện Xuân Trường xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 28/7/2016, bị Toà án nhân dân huyện Xuân Trường xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong ngày 28/11/2018.
- Ngày 11/8/2020, bị Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, chấp hành xong ngày 03/12/2022.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 10/5/2024, đến ngày 19/5/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Tại phiên toà bị cáo có mặt.
3. Nguyễn Xuân N, sinh ngày 06/3/1970, nơi sinh và nơi cư trú: xóm F, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân Q và bà Phạm Thị K1 (đều đã chết); bị cáo có vợ là Phạm Thị P và có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 10/5/2024, đến ngày 19/5/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Tại phiên toà bị cáo có mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Đinh Xuân A; vắng mặt
- Anh Phạm Văn B2; vắng mặt
- Chị Ngô Thị B; có mặt
- Người chứng kiến: Anh Vũ Văn P1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Xuân N và Đỗ Viết K là bạn nghiện với nhau và cùng ở xóm F, xã X, huyện X. Do cần tiền để chi tiêu cá nhân nên N đã nhờ K, bán hộ ma tuý cho mình nhằm mục đích kiểm lời. Hai bên thống nhất N sẽ đi mua ma tuý về đưa cho K bán và trả công cho K bằng ma tuý, mỗi gói nhỏ ma tuý sẽ được bán với giá 200.000 đồng. Khoảng 18 giờ ngày 09/5/2024, Nguyễn Xuân N một mình đi bộ từ nhà ở xóm F, xã X, huyện X đến khu vực xã G, huyện G, tỉnh Nam Định, N gặp một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ. Qua dò hỏi, biết người này có ma tuý bán, N hỏi mua 1.000.000 đồng Heroine. Người này đồng ý, nhận tiền rồi đưa cho N 01 gói Heroine. Sau đó, N quay về nhà lấy một phần ra sử dụng, số ma tuý còn
lại chia thành 09 gói nhỏ (03 gói giấy bạc màu vàng và 06 gói giấy màu trắng đen), trong đó 08 gói để bán kiếm lời, còn 01 gói dùng để trả công cho K.
Khoảng 20 giờ ngày 09/5/2024, Nguyễn Xuân N mang 03 gói giấy bạc nhỏ màu vàng đi bộ đến nhà Kính để nhờ bán hộ. Tại phòng khách nhà Kính, N đưa cho K 03 gói nhỏ nêu trên, trong đó 02 gói nhờ Kính bán hộ còn 01 gói trả công cho K. Kính lấy gói ma tuý được trả công sử dụng 01 phần, phần còn lại cất giấu nhằm mục đích bán lấy tiền. Khoảng 08 giờ ngày 10/5/2024, N tiếp tục đưa cho K thêm 06 gói giấy nhỏ màu trắng đen để K bán hộ. Sau đó, Nguyễn Xuân N tiếp tục đến xã G mua 1.000.000 đồng ma tuý của người đàn ông N mua lần trước được người này bán cho 01 túi zíp, bên trong chứa 01 gói giấy màu vàng – xanh chứa Heroine.
Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 10/5/2024, Phan Văn B1 đi bộ từ nhà ở xóm B, xã X, huyện X đến nhà Đỗ Viết K ở xóm F, xã X rủ K mua ma tuý đá về cùng sử dụng. Do không biết chỗ mua nên B1 hỏi K và được K chỉ ra khu vực đền thuộc xóm F, xã X để tìm mua. Tại đây, B1 gặp một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ. Qua dò hỏi biết người này có ma tuý bán, B1 hỏi mua 300.000 đồng ma tuý đá. Người đàn ông đồng ý, nhận tiền rồi đưa cho B1 01 đoạn ống nhựa nhỏ hàn kín hai đầu bên trong chứa ma tuý đá. B1 cầm đoạn ống nhựa trên về nhà Kính, được K dẫn lên tầng hai. Kính lấy từ trong gầm giường 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá gồm 01 chai nhựa nắp vàng bên trong có gắn 01 dây nhựa dạng ống hút và 01 cóng thuỷ tinh cắm lên chai nhựa đưa cho B1. Sau đó, B1 lấy dao lam có sẵn trong phòng cắt một đầu đoạn ống nhựa chứa ma tuý đá ra, đổ một phần vào trong cóng thuỷ tinh, dùng bật lửa hàn kín đầu ống nhựa vừa cắt cất đi rồi đưa ống hút trên bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá cho K. Kính ngậm một đầu ống hút, B1 dùng bật lửa đốt ma tuý đá trong cóng thuỷ tinh để Kính hít ma tuý đá vào cơ thể. Sau khi K sử dụng xong đưa cho B1, B1 nhận, ngậm ống hút rồi tiếp tục dùng bật lửa châm đốt ma tuý đá để hít. Cả hai liên tục đổi nhau sử dụng ma tuý đến khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày thì có Đinh Xuân A, sinh năm: 1986, trú tại: xóm B, xã X đi xe ôm của anh Phạm Văn B3, sinh năm: 1985, trú tại: xóm C, xã X đến gặp K để mua ma tuý. Tại phòng khách nhà của K, A hỏi mua 400.000 đồng ma tuý Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. K đồng ý, nhận tiền rồi đưa cho Anh 02 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. Anh xác định là H, cất vào túi quần sau bên phải 01 gói, còn một gói Anh xin K sử dụng luôn tại phòng khách. Kính đồng ý. Sau đó, Anh đổ số ma tuý trong gói vào bơm kim tiêm pha với nước cất đã chuẩn bị từ trước rồi tiêm hết vào cơ thể.
Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Đinh Xuân A, Đỗ Viết K và Phan Văn B1 vừa sử dụng ma tuý xong thì bị Tổ công tác của Công an huyện X phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác đã thu giữ của Đinh Xuân A 01 gói giấy nhỏ vừa mua (niêm phong ký hiệu M1) và 01 bơm kim tiêm cùng 01 ống thuỷ tinh đã qua sử dụng (niêm phong ký hiệu M2); thu giữ của Đỗ Viết K 01 gói giấy nhỏ cất giấu ở gốc
cây nhãn trước sân nhà Kính nhằm bán kiếm lời (niêm phong ký hiệu M3) và số tiền 1.500.000 đồng, trong đó có 400.000 đồng do bán ma tuý cho A; thu giữ của Phan Văn B1 01 đoạn ống nhựa nhỏ (niêm phong ký hiệu M4), 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá (ký hiệu M5), 01 dao lam và 01 bật lửa. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ, niêm phong mẫu nước tiểu của Đỗ Viết K, Đinh Xuân A, Phan Văn B1 (ký hiệu T1, T2, T3).
Khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày, Nguyễn Xuân N đi bộ đến nhà Đỗ Viết K với mục đích kiểm tra xem số ma tuý đã giao cho K bán được bao nhiêu và đem theo 01 túi zíp mua lúc sáng nhờ K bán tiếp. Khi N đến nhà Kính thì bị Tổ công tác của Công an huyện X phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra. Nguyễn Xuân N đã tự giác giao nộp 01 túi mang theo và khai nhận là ma tuý, mục đích đưa cho K bán kiếm lời. Tổ công tác đã mời người chứng kiến niêm phong 01 túi zíp Nhương nộp trong phong bì thư ký hiệu A. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của Nhương số tiền 950.000 đồng.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Viết K thu giữ 06 gói nhỏ bên ngoài gói bằng giấy màu trắng đen, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong ký hiệu K). K khai nhận đây đều là ma tuý N đưa cho K với mục đích bán kiếm lời. Cơ quan điều tra khám xét nơi ở của Phan Văn B1 và Nguyễn Xuân N nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Ngày 10/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện X đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với mẫu M1. Tại bản kết luận giám định số 886/KL-KTHS ngày 10/5/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy bạc màu vàng niêm phong ký hiệu M1 là ma tuý; Loại ma tuý: Heroine; Khối lượng mẫu M1: 0,04 gam.
Ngày 13/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện X đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với mẫu M2, M3, M4, M5, K, T1, T2, T3 và A, kết quả như sau:
+ Tại bản kết luận giám định số 903/KL-KTHS ngày 17/5/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh N kết luận:
- Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu M3, K là ma tuý; Loại ma tuý: Heroine; Tổng khối lượng mẫu K: 0,466 gam; Khối lượng mẫu M3: 0,048 gam.
- Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu M4, M5 đều là ma tuý; Loại ma tuý: Methamphetamine; Khối lượng mẫu M4: 0,023 gam; Mẫu M5 không xác định được khối lượng.
- Có tìm thấy chất Heroine trong dung dịch màu nâu bám dính trong bơm kim tiêm niêm phong ký hiệu M2, không xác định được thể tích mẫu.
- Đều tìm thấy thành phần các chất: Methamphetamine, M, C và 6-MAM trong hai mẫu nước tiêu niêm phong ký hiệu T1 và T3.
- Có tìm thấy các chất: Morphin, C và 6-MAM trong mẫu nước tiểu niêm phong ký hiệu T2.
+ Tại bản kết luận giám định số 902/KL-KTHS ngày 17/5/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 túi zíp bên trong chứa 01 gói giấy màu vàng – xanh niêm phong ký hiệu A là ma tuý; Loại ma tuý: Heroine; Khối lượng mẫu A: 0,993 gam.
Tại Cơ quan điều tra Đỗ Viết K, Phan Văn B1, Nguyễn Xuân N đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như trên. Ngoài ra, Nguyễn Xuân N còn khai nhận nguồn gốc số H đã đưa cho K nhờ bán hộ và số Heroine trong túi Zip Nhương mang đến nhờ Kính bán tiếp nhằm mục đích để bán kiếm lời, như sau.
Khoảng 18 giờ ngày 09/5/2024, N đi xuống khu vực chợ xã G, huyện G, tỉnh Nam Định mua của một người đàn ông không quan biết, không rõ tên tuổi địa chỉ 1.000.000 đồng Heroine. Sau đó, N quay về nhà lấy một phần ra sử dụng, số ma tuý còn lại chia thành 09 gói nhỏ (03 gói giấy bạc màu vàng và 06 gói giấy màu trắng đen), trong đó 08 gói để bán kiếm lời, còn 01 gói dùng để trả công cho K.
Khoảng 20 giờ ngày 09/5/2024, Nguyễn Xuân N mang 03 gói giấy bạc nhỏ màu vàng đi bộ đến nhà Kính để nhờ bán hộ. Tại phòng khách nhà Kính, N đưa cho K 03 gói nhỏ nêu trên, trong đó 02 gói nhờ Kính bán hộ còn 01 gói trả công cho K. Kính lấy gói ma tuý được trả công sử dụng 01 phần, phần còn lại cất giấu nhằm mục đích bán lấy tiền. Khoảng 08 giờ ngày 10/5/2024, N tiếp tục đưa cho K thêm 06 gói giấy nhỏ màu trắng đen để K bán hộ.
Sau đó, Nguyễn Xuân N tiếp tục đến xã G mua 1.000.000 đồng ma tuý của người đàn ông N mua lần trước được người này bán cho 01 túi zíp, bên trong chứa 01 gói giấy màu vàng – xanh chứa Heroine.
Cáo trạng số 71/CT-VKSXT ngày 30/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố Đỗ Viết K về các tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS; tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 255 BLHS; tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 256 BLHS; Phan Văn B1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất tuý” theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 BLHS; Nguyễn Xuân N về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường luận tội, đánh giá về nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và giữ nguyên quan điểm đã truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; khoản 1 Điều 255; khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Viết K.
Về tội danh, tuyên bố bị cáo Đỗ Viết K phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Viết K từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”
Xử phạt bị cáo Đỗ Viết K từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”
Xử phạt bị cáo Đỗ Viết K từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”
Căn cứ vào; điểm a, khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Đỗ Viết K từ 09 năm đến 10 năm 06 tháng tù.
Hình phạt bổ sung; Phạt bị cáo Đỗ Viết K2 từ 10 -15 triệu đồng sung ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ vào điểm h khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phan Văn B1.
-Về tội danh, tuyên bố bị cáo Phan Văn B1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
-Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Văn B1 từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù
Về hình phạt bổ sung; Hoành cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn đề nghị HĐXX không phạt bổ sung đối với bị cáo
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Xuân N.
-Về tội danh, tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân N phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”
-Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân N từ 4 năm 6 tháng đến 05 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị HĐXX phạt bị cáo từ 10 - 15 triệu đồng sung ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a,b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 886/KL-KTHS ngày 10/5/2024; 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 902/KL-KTHS ngày 17/5/2024; 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giam định số 903/GĐKTHS ngày 17/5/2024 đều của Phòng K3 Công an tỉnh N; 01 chai nhựa
có lắp màu vàng gắn 01 đoạn ống nhựa màu trắng dài 25cm; 01 dao lam màu trắng; 01 bật lửa ga màu đỏ;
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 400.000đ của bị cáo K vì đây là số tiền do phạm tội mà có
Trả lại số tiền 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng) cho bị cáo Đỗ Viết K; 950.000 đồng (Chín trăm năm mươi nghìn đồng) cho bị cáo Nguyễn Xuân N, số tiền này không liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo K2, bị cáo N nhưng tiếp tục được lưu giữ lại Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Trường để đảm bảo cho việc thi hành án.
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo thực sự ăn năn, hối lỗi mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, kết hợp với kết luận giám định về số Heroine thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên ngày 09 và 10/5/2024 Nguyễn Xuân N đem 09 gói Heroine đến nhà Đỗ Viết K, trong đó 08 gói Nhương nhờ K bán hộ với giá 200.000 đồng/gói, còn 01 gói trả công cho K, K đã sử dụng một phần gói được trả công, phần còn lại cất giấu để bán có khối lượng 0,048 gam. Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 10/5/2024, tại nhà ở của K ở xóm F, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, K đã bán cho Đinh Xuân A 02 gói Heroine (trong đó 01 gói bị thu giữ có khối lượng 0,04 gam, 01 gói Anh đã sử dụng hết) mà N nhờ bán với giá 400.000 đồng và đồng ý cho A sử dụng 01 gói Heroine tại nhà ở của mình. Ngoài ra, Đỗ Viết K còn cung cấp 01 bộ dụng cụ, địa điểm; Phan Văn B1 cung cấp 01 gói Methmaphetamine để K và B1 thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà ở của K tại xóm F, xã X, huyện X thì bị Tổ công tác của Công an huyện X phát hiện bắt quả tang. Quá trình bắt giữ, tổ công tác của Công an huyện X thu giữ khối lượng 0,023 gam Methamphetamine còn lại Kính và B1 chưa sử dụng hết. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Đỗ Viết K, Cơ quan
điều tra thu giữ 06 gói Heroine có khối lượng 0,466 gam, K khai nhận là ma tuý do Nguyễn Xuân N đưa cho K vào khoảng 08 giờ sáng ngày 10/5/2024 nhờ bán hộ. Tổng số ma tuý K mua bán nhằm mục đích kiếm lời là 0,594 gam Heroine (trong đó 0,048 gam do N trả công; 0,466 gam thu giữ khi khám xét; 0,04 gam thu giữ của Anh và 1 gói Anh đã sử dụng hết tương đương khối lượng gói đã thu giữ của Anh là 0,04 gam).
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 10/5/2024, Nguyễn Xuân N tiếp tục mang theo 0,993 gam Heroine đến nhà Kính để nhờ bán hộ thì bị tổ Công tác Công an huyện X phát hiện bắt quả tang. Tổng số ma tuý N mua bán nhằm mục đích kiếm lời là 1,587 gam Heroine, trong đó có 0,594 gam đưa cho K và 0,993 gam tàng trữ trong người.
Vì vậy, hành vi của bị cáo Đỗ Viết K đã cấu thành các tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS; tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 255 BLHS; tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 256 BLHS; hành vi của bị cáo Phan Văn B1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất tuý”, do B1 đã tái phạm, chưa được xoá án tích, nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 BLHS; hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân N về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS. như Viện kiểm sát truy tố các bị cáo ra phiên toà là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của nhà nước về các chất gây nghiện. Tính nguy hiểm của hành vi còn thể hiện ở chỗ: Tệ nạn ma tuý đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội, nó không chỉ huỷ hoại sức khoẻ của người nghiện mà còn khiến nhiều gia đình rơi vào cảnh khánh kiệt, bần cùng; là nguyên nhân dẫn đến phạm tội và gây mất trật tự, an toàn xã hội; bị cáo K và bị N nhận thức được việc bán ma tuý là tác hại là gieo rắc hành vi tiếp tay cho việc sử dụng ma tuý xong vì mục đích kiếm lời mà các bị cáo bất chấp. Không những thế bị cáo K và bị cáo B1 cùng tổ chức sử dụng trái pháp ma tuý ngay tại nhà của bị cáo K. Điều đó thể hiện sự liều lĩnh bấp chất coi thường pháp luật, bản thân bị cáo Phan Văn B1 có nhân thân xấu, đã nhiều lần phạm tội và liên quan đến ma tuý xong bị cáo không lấy đó để làm bài học cho bản thân mà tiếp tục vi phạm pháp luật. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo nghiêm minh trước pháp luật thì mới tác dụng đấu tranh chanh phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo B1 bị truy tố theo tình tiết định khung. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị
cáo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Từ những phân tích trên, HĐXX xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội, có như vậy mới tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội,
[6] Về hình phạt bổ sung: Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật đối với bị cáo Đỗ Viết K, bị cáo Nguyễn Xuân N nên HĐXX sẽ áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo này. Đối với bị cáo Phan Văn B1 hoàn cảnh khó khăn mặt khác là người nghiện ma tuý nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
[7] Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Số ma tuý đã thu giữ của các bị cáo là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 chai nhựa có lắp màu vàng gắn 01 đoạn ống nhựa màu trắng dài 25cm là bộ dụng cụ do K tự chế để phục vụ cho việc sử dụng trái phép chất ma túy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 dao lam màu trắng và 01 bật lửa ga màu đỏ là công cụ mà bị cáo K và bị cáo B1 sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 400.000đ của bị cáo K vì đây là số tiền do thực hiện hành vi phạm tội mà có.
Trả lại số tiền 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng) cho bị cáo Đỗ Viết K; 950.000 đồng (Chín trăm năm mươi nghìn đồng) cho bị cáo Nguyễn Xuân N. Vì đây là tài sản do các bị cáo lao động tiết kiệm mà có, không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tiếp tục lưu giữ lại Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Trường để đảm bảo cho việc thi hành án.
[8] Đối với Đinh Xuân A có hành vi tàng trữ 0,040 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Xét hành vi không cấu thành tội phạm cơ quan Công an huyện X quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Xuân A là phù hợp.
[9] Đối với những người đàn ông đã bán ma túy cho Phan Văn B1 và Nguyễn Xuân N, do B1 và N đều khai không biết tên, tuổi, địa chỉ, ngoài ra không còn nguồn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh nên Cơ quan CSĐT Công an huyện X không có căn cứ để xử lý.
[10] Đối với anh Phạm Văn B2 là người đi xe ôm, chở Đinh Xuân A đến nhà Kính mua Heroine, do Xuân A không nói cụ thể đi làm gì, anh B2 không biết việc Xuân A đi mua ma túy về sử dụng; còn chị Ngô Thị B là vợ của Đỗ Viết K, khi K và đồng bọn thực hiện hành vi phạm tội chị B không có nhà, không biết các bị cáo sử dụng nhà của mình để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên Cơ quan CSĐT Công an huyện X không đặt ra vấn đề xử lý là phù hợp.
[11] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[12]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251; khoản 1 Điều 255; khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Đỗ Viết K phạm tội các tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”; “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý”
- Xử phạt bị cáo Đỗ Viết K 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Xử phạt bị cáo Đỗ Viết K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Xử phạt bị cáo Đỗ Viết K 03 (ba) năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ vào: Điểm a, khoản 1 Điều 55 của Bộ luật hình sử; Buộc bị cáo Đỗ Viết K phải chấp hành hình phạt 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2024.
- Phạt phạt bổ sung bị cáo Đỗ Viết K 10.000.000đ sung ngân sách Nhà nước.
- Căn cứ vào điểm h khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Phan Văn B1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái pháp chất ma tuý".
- Xử phạt bị cáo Phan Văn B1 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2024.
- Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân N phạm tội “Mua bán trái pháp chất ma tuý".
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân N 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 10/5/2024.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Xuân N 13.000.000₫ sung ngân sách Nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 886/KL-KTHS ngày 10/5/2024; 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 902/KL-KTHS ngày 17/5/2024; 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giam định số 903/GĐKTHS ngày 17/5/2024 đều của Phòng K3 Công an tỉnh N; 01 chai nhựa có lắp màu vàng gắn 01 đoạn ống nhựa màu trắng dài 25cm; 01 dao lam màu trắng và 01 bật lửa ga màu đỏ.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 400.000đ của bị cáo K.
Trả lại số tiền 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng) cho bị cáo Đỗ Viết K; 950.000 đồng (Chín trăm năm mươi nghìn đồng) cho bị cáo Nguyễn Xuân N nhưng tiếp tục lưu giữ lại Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Trường để đảm bảo cho việc thi hành án.
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 95/CCTHA và thu tiền số 0000095 ngày 12/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Buộc các bị cáo Đỗ Viết K, Phan Văn B1, Nguyễn Xuân N mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo Đỗ Viết K, Phan Văn B1, Nguyễn Xuân N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Phạm Ngọc Long |
Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG - TỈNH NAM ĐỊNH về vụ án hình sự về các tội: mua bán trái phép chất ma tuý; tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý; chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 75/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về các tội: Mua bán trái phép chất ma tuý; Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý; Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG - TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tội mua bán trái phép chất ma tuý
