|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ
Bản án số: 71/2024/HS-ST Ngày: 24 - 9 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Quân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Văn Thuận
2. Bà Ngô Thị Ân
Thư ký phiên toà: Ông Lê Tiến Trường – Thư ký tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Đoàn Văn Tuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 24/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 64/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST-HS, ngày 10/9/2024 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Đức D; Sinh ngày : 09/10/1989; tại phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum; nơi cư trú: Số A N, Tổ A, phường T, thành phố K, tinh K; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 10/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đức D1 – Đã chết; Con bà: Trần Thị Thanh H – Đã chết; Tiền án: Tiền sự: Không; Bị cáo tạm giữ từ ngày 27/5/2024 đến ngày 30/5/2024 chuyển tạm giam đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa;
Những người tham gia tố tụng:
* Bị hại:
- Lê Văn H1, sinh năm: 1994 (vắng mặt) Địa chỉ: Khu phố A T, TT K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- Nguyễn Công D2, sinh năm: 1993 (vắng mặt) Địa chỉ: Ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Huỳnh Thanh T, sinh năm: 2006 (vắng mặt) Địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.
- Vàng A L, sinh năm: 2003 (vắng mặt) Địa chỉ: Bản C, xã T, huyện M, Lai Châu.
- Phùng Thanh L1, sinh năm: 1982 (vắng mặt) Địa chỉ: Phố C, TT R, huyện Đ, Thanh Hóa.
- Đinh Hoàng Đ, sinh năm: 2005 (vắng mặt) Địa chỉ: Số B T, tổ E, phường T, quận H, Hà Nội.
- Cáp Trọng Đ1, sinh năm: 1996 (vắng mặt) Địa chỉ: Số D L, phường H, TP H, tỉnh Hải Dương.
- Bùi Hoàng A, sinh năm: 1996 (vắng mặt) Địa chỉ: Chung cư L, khối C, phường N, Tp V, Nghệ An.
- Lê Thành N, sinh năm: 1972 (vắng mặt) Địa chỉ: Ấp T, TT T, huyện T, TP Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng đầu năm 2023, do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Đức D sinh năm 1989, trú tại số A N, Tổ A, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum nảy sinh ý định lừa đảo để chiếm đoạt tiền đặt cọc mua hàng của những người mua hàng trên mạng xã hội Facebook và Z. Thực hiện ý định trên, Nguyễn Đức D đã sử tài khoản thư điện tử G có tên lyngocnam7777@gmail.com để tạo lập tài khoản Facebook có tên là “Vũ Nam L2”, rồi dùng tài khoản này để tạo lập nhóm công khai trên Facebook có tên là “M1911 M92 Zp5 sky đồ chơi”. Sau đó, D dùng tài khoản Facebook này để đăng tải các hình ảnh, mẫu súng thể thao, bắn đạn cao su (thực tế D không có các loại súng, đạn này) để thu hút những người sử dụng mạng xã hội Facebook có nhu cầu mua súng. Khi có người hỏi mua, D sẽ dùng tài khoản mạng xã hội Facebook trên hoặc tài khoản mạng xã hội Z cùng tên “Vũ Nam L2” (được đăng ký từ một số thuê bao không chính chủ, D không cung cấp được số thuê bao này) để nhắn tin riêng với những người này. Sau khi khách hàng lựa chọn loại hàng, thống nhất về giá cả mua bán, D sẽ yêu cầu người mua hàng cung cấp số điện thoại, địa chỉ nhận hàng và chuyển tiền đặt cọc hoặc toàn bộ tiền mua hàng trước vào tài khoản ngân hàng do D cung cấp. Khi nhận được tiền từ người mua hàng, D xóa thành viên của người mua đó trên nhóm “M1911 M92 Zp5 sky đồ chơi” và chặn liên lạc để người mua hàng không thể liên lạc lại với D nhằm chiếm đoạt tiền mà khách hàng đã chuyển trước đó.
Với cách thức, thủ đoạn như trên, từ khoảng đầu năm 2023, Nguyễn Đức D đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xr, màu vàng, đăng nhập tài khoản Facebook “Vũ Nam L2” và Z “Vũ Nam L2” để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với 09 người ở nhiều địa phương khác nhau, với tổng số tiền chiếm đoạt là 57.000.000 đồng (Năm mươi bảy triệu đồng). Cụ thể như sau:
Ngày 10/02/2023, D giao dịch với anh Vàng A L SN 2003, trú tại Bản C, xã T, huyện M, Lai Châu (tên F là Hlub Tshaj T) để mua bán súng có mã “M1911” với giá 8.000.000đ, D yêu cầu anh L chuyển tiền đặt cọc trước là 4.000.000đ. Ngày 13/02/2023, anh L đã dùng tài khoản ngân hàng A2 số tài khoản 7804281000817 của mình chuyển đến tài khoản S số tài khoản 040106901262 của D với số tiền là 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng). Sau đó D chiếm đoạt số tiền này.
Ngày 13/6/2023, D giao dịch với anh Huỳnh Thanh T SN 2006, trú tại Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang (tên F là Thanh T1) để mua bán súng có mã “M1911 Co2”, có giá 4.800.000đ, D yêu cầu anh T chuyển tiền đặt cọc trước là 4.000.000đ. Ngày 14/6/2023, anh T đã dùng tài khoản ngân hàng C số tài khoản 107873626862 (là tài khoản của T) chuyển đến tài khoản S số tài khoản 040106901262 với số tiền là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng). Sau đó D chiếm đoạt số tiền này.
Ngày 07/4/2024, D giao dịch với anh Phùng Thanh L1 SN 1982, trú tại Phố C, TT R, huyện Đ, Thanh Hóa (FB Phùng Thanh L1) để mua bán súng loại không ghi mã số, giá 3.000.000đ, D yêu cầu anh L1 chuyển toàn bộ số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng) vào tài khoản của bạn là anh Mã Thanh L3 SN 1992, trú tại phường I, quận G, TP Hồ Chí Minh. Ngày 10/4/2024, anh L1 đã dùng tài khoản ngân hàng V của mình chuyển đến tài khoản T5 số tài khoản 01553404001 số tiền là 3.000.000đ, anh L3 không biết nội dung sự việc chuyển khoản liên quan đến việc lừa đảo và đã chuyển lại tiền này cho anh D. Sau đó D chiếm đoạt số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) này.
Ngày 10/4/2024, D giao dịch với anh Đinh Hoàng Đ SN 2005, trú tại B T, tổ E, phường T, quận H, Hà Nội (tên FB Đinh Hoàng Đ) để mua bán súng mã “ekol”, giá 12.000.000đ, D yêu cầu anh Đ chuyển tiền đặt cọc trước là 8.000.000đ. Ngày 10/4/2024, anh Đ đã dùng tài khoản ngân hàng MB số tài khoản 0916.866.219 của mình chuyển đến tài khoản S số tài khoản 040106901262 của D với số tiền là 8.000.000₫ (Tám triệu đồng). Sau đó D chiếm đoạt số tiền này.
Ngày 10/4/2024, D giao dịch với anh Lê Văn H1 SN 1994, trú tại KP A T, TT K, huyện T, Thanh Hóa (Zalo Khổng T2) để mua bán súng loại có mã “M1911”, giá 12.000.000đ, D yêu cầu anh H1 chuyển 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) đặt cọc. Ngày 11/4/2024, anh H1 đã dùng tài khoản ngân hàng MB số tài khoản 0977755255 của mình chuyển đến tài khoản S số tài khoản 040106901262 của D số tiền 4.000.000đ. Sau đó D chiếm đoạt số tiền 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) này.
Ngày 16/4/2024, D giao dịch với anh Cáp Trọng Đ1 SN 1996, trú tại D L, phường H, TP H, tỉnh Hải Dương (F1) để mua bán súng loại có mã M1911, giá 5.000.000đ, D yêu cầu anh Đ1 chuyển cả 5.000.000₫ (Năm triệu đồng) tiền hàng trước. Ngày 16/4/2024, anh Đ1 đã dùng tài khoản ngân hàng MB số tài khoản 11171196666 của mình chuyển đến tài khoản S số tài khoản 040106901262 của D số tiền là 5.000.000đ. Sau đó D chiếm đoạt số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) này.
Ngày 22/4/2024, D giao dịch với anh Bùi Hoàng A SN 1996, trú tại Chung cư L, khối C, phường N, Tp V, Nghệ An (tên F2) để mua bán súng mã Berreta, giá 12.000.000₫, D yêu cầu anh Bùi Hoàng A chuyển tiền đặt cọc trước là 10.500.000đ. Giao dịch này là Hoàng A mua giúp cho Nguyễn Tuấn A1 SN 1992, trú tại xã H, Tp V (hiện đã chết). Ngày 22/4/2024, anh Hoàng A đã dùng tài khoản ngân hàng C số tài khoản 109879260562 của mình chuyển đến tài khoản S số tài khoản 040106901262 của D với số tiền là 10.500.000₫ (Mười triệu năm trăm nghìn đồng) là tiền của anh Nguyễn Tuấn A1. Sau đó, D chiếm đoạt số tiền này.
Ngày 27/4/2024, D giao dịch với anh Nguyễn Công D2 SN 1993, trú tại Ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai (tên FB Danh O) để mua súng mã “Rulo”, D yêu cầu anh D2 chuyển tiền đặt cọc trước là 8.000.000đ. Anh D2 đã dùng tài khoản ngân hàng V1 số tài khoản 1017492496 của mình chuyển đến tài khoản S số tài khoản 040106901262 của D vào ngày 28/4/2024 với số tiền là 1.000.000đ (một triệu đồng) và vào ngày 01/5/2024 là 7.000.000₫ (bảy triệu đồng). Sau đó D chiếm đoạt số tiền tổng là 8.000.000₫ (tám triệu đồng) này.
Ngày 04/5/2024, D giao dịch với anh Lê Thành N SN 1972, trú tại Ấp T, TT T, huyện T, TP Cần Thơ (tên FB Nhơn L) để mua bán súng 03 khẩu súng mã M1911, D yêu cầu anh N chuyển tiền đặt cọc trước. Ngày 06/5/2024, anh N đã dùng tài khoản ngân hàng S số tài khoản 070088606769 của mình chuyển đến tài khoản S số tài khoản 040106901262 ba lần, với tổng số tiền là 10.500.000₫ (Mười triệu năm trăm nghìn đồng). Sau đó D chiếm đoạt số tiền này.
Ngoài những bị hại nói trên, D còn khai báo trong khoảng thời gian từ năm 2023 đến khi bị bắt, D đã lừa đảo, chiếm đoạt tiền của một số người khác với số tiền từ 500.000₫ đến 10.000.000₫. Tuy nhiên, không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh về việc giao dịch này, do đó không đủ căn cứ để xem xét xử lý về những lần vi phạm nói trên. (Các bút lục từ số 01 đến số 04; từ số 26 đến số A; từ số 201 đến số B; từ số 272 đến số B)
Quá trình điều tra xác định, những người đặt mua súng của Nguyễn Đức D đều với mục đích để trưng bày, mặt hàng được giao dịch mua bán không có trên thực tế, không xác định được tính năng, tác dụng của súng. Mặt khác, các giao dịch mua-bán chưa hoàn thành, do đó không đủ căn cứ xử lý về hành vi của những người mua này.
Quá trình làm việc với các bị hại, anh Lê Văn H1 yêu cầu bị can bồi thường số tiền 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng), anh Nguyễn Công D2 yêu cầu bồi thường 8.000.000đ, anh Huỳnh Thanh T yêu cầu bồi thường 4.000.000đ, đây là số tiền mà các bị hại đã bị chiếm đoạt, những người còn lại đều không có yêu cầu, đề nghị bị can bồi thường.
Xác minh điều kiện kinh tế, thu nhập của bị can xác định bị can là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản chung, tài sản riêng. (bút lục số 285).
Vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong, bên trong có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XR, màu vàng, số IMEI 353060107478643, cũ, đã qua sử dụng của Nguyễn Đức D sẽ được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành bảo quản, chờ xử lý.
*Tại bản cáo trạng số 73/CT-VKSTT ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa truy tố các bị cáo Nguyễn Đức D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
*Phần tranh tụng tại phiên tòa:
- Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 2,5 Điều 174; điểm b,s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Đức D từ 27 đến 30 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày (27/5/2024).
- Phạt tiền bổ sung đối với bị cáo số từ 20.000.000đ đến 30.000.000đ để sung quỹ nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các điều 47, 48 BLHS; Điều 106 BLTTHS; các điều 584; 585, 586, 589 Bộ luật dân sự đề nghị:
Buộc bị cáo Nguyễn Đức D phải hoàn trả lại số tiền đã chiếm đoạt cho các bị hại trong đó anh H1 là 4.000.000 đồng, anh T là 4.000.000 đồng, anh D2 là 8.000.000 đồng.
Tại phiên tòa bà Trịnh Thị T3 là cô của bị cáo đã thay bị cáo bồi thường số tiền trên cho ba người bị hại theo biên lai thu tiền 0001109 ngày 24/09/2024 với số tiền 16.000.000đ. Bà T3 không yêu cầu bị cáo phải trả lại cho bà số tiền bà đã nộp thay cho bị cáo nên không xem xét. Các bị hại khác không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
+ Đề nghị truy thu bị cáo 41.000.000đ để sung quỹ nhà nước.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX tịch sung công quỹ nhà nước đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XR, màu vàng, số IMEI 353060107478643.
- Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh tụng bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ;
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên Cơ quan điều tra công an huyện T và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Đức D đã nhận tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với thời gian, địa điểm, lời khai bị hại cùng với những tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ động cơ vụ lợi, muốn có tiền tiêu xài cá nhân, trong khoảng thời gian từ đầu năm 2023 đến ngày 04/5/2024, bằng thủ đoạn tải hình ảnh trên mạng internet các mẫu súng thể thao, bắn đạn cao su rồi đăng tin rao bán trên nhóm Facebook có tên là “M1911 M92 Zp5 sky đồ chơi” do mình tạo lập, Nguyễn Đức D đã lừa đảo, chiếm đoạt của 09 người mua hàng với tổng số tiền 57.000.000 đồng. Hành vi của Nguyễn Đức D đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của VKSND huyện Thạch Thành truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất vụ án: Tính chất vụ án là nghiêm trọng do Nguyễn Đức D thực hiện. Trong vụ án này bị cáo thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhiều lần. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, bản thân bị cáo là người đã trưởng thành nhận thức được hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản cuả người khác là sai trái và lường trước được hậu quả do mình gây ra nhưng vì bản tính lừa lao động, tham lam, muốn hưởng thụ trên mồ hôi công sức, thành quả lao động của người khác nên vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo có tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó, cần có mức án nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo có nghề nghiệp, thời gian phạm tội kéo dài nên không có dấu hiệu của tình tiết tăng nặng phạm tội có tính chất chuyên nghiệp.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bồi thường khắc phục hậu quả theo yêu cầu của bị hại nên áp dụng điểm b, s Khoản 1 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[5] Về dân sự: Quá trình điều tra người bị hại là anh H1 yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền chiếm đoạt là 4.000.000 đồng, anh T yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền chiếm đoạt là 4.000.000 đồng, anh D2 yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền chiếm đoạt là 8.000.000 đồng. Xét thấy yêu cầu này là chính đáng phù hợp pháp luật nên buộc bị cáo phải trả lại khoản tiền trên cho các bị hại yêu cầu. Đối với các bị hại khác không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Tại phiên tòa bà Trịnh Thị T3 là cô của bị cáo đã thay bị cáo bồi thường số tiền trên cho ba người bị hại theo biên lai thu tiền 0001109 ngày 24/09/2024 với số tiền 16.000.000đ. Anh H1, anh T, anh D2 được nhận số tiền mà các anh đã yêu cầu tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành.
Đối với số tiền người bị hại không yêu cầu bị cáo hưởng lợi từ số tiền chiếm đoạt nên cần truy thu bị cáo số tiền này để sung quỹ nhà nước.
[6] Về vật chứng: Chiếc điện thoại IPHONE XR bị cáo D sử dụng nhắn tin lừa đảo các bị hại để chiếm đoạt tài sản là vật dùng vào việc phạm tội nên cần tịch sung công quỹ nhà nước.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b,s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức D 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (27/5/2024).
- Phạt tiền bổ sung đối với bị cáo số tiền 20.000.000đ để sung quỹ nhà nước.
- Áp dụng: Áp dụng Điều 136, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Điều 47, 48 BLHS; các điều 584; 585, 586, 589 Bộ luật dân sự.
+Tịch sung công quỹ nhà nước đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XR, màu vàng, số IMEI 353060107478643. Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 17/09/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành
+ Về Dân sự: Anh Lê Văn H1 được nhận lại số tiền bị cáo chiếm đoạt là 4.000.000 đồng, anh Huỳnh Anh T4 được nhận lại số tiền bị cáo chiếm đoạt là 4.000.000 đồng, anh Nguyễn Công D2 được nhận lại số tiền bị cáo chiếm đoạt là 8.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành.
+ Truy thu bị cáo 41.000.000đ để sung quỹ nhà nước.
+ Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo vắng mặt các bị hại, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Văn Quân |
Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 71/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức Duy - Lừa đảo
