Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HD

TỈNH BL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31/7/2024

(V/v Tranh chấp yêu cầu ly hôn,

nuôi con)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HD - TỈNH BL

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Hồng Diễm

Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Thái Hiệpông Lại Thiện Phong

Thư ký phiên tòa: Ông Tô Hoàng Kha – Thư ký Tòa án nhân dân huyện HD, tỉnh BL.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HD tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Kha, Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện HD xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 77/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp yêu cầu ly hôn, nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 giữa:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985

Địa chỉ: ấp NL, xã NQA, huyện HD, tỉnh BL

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Minh Th, sinh năm 1988

Địa chỉ: ấp NL, xã NQA, huyện HD, tỉnh BL

(Anh Đ có đơn xin vắng mặt, chị Th vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 07/11/2023, lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn anh Nguyễn Văn Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Giữa anh với chị Nguyễn Thị Minh Th đi đến hôn nhân do quen biết, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NQA, huyện HD, tỉnh BL vào ngày 23/02/2018 và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.

Nguyên nhân ly hôn theo anh Đ trình bày: Do trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh Nhiều mâu thuẫn, từ đó dẫn đến đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Hiện anh và chị Th sống ly thân khoảng 03 năm nay, trong khoảng thời gian sống xa nhau vợ chồng không có biện pháp hàn gắn tình cảm gia đình. Nay anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị Minh Th.

Về con chung: Anh Nguyễn Văn Đ xác định trong thời gian chung sống vợ chồng có với nhau 01 người con chung tên Nguyễn Khánh Nh, sinh ngày 12/4/2010. Từ khi vợ chồng sống ly thân thì anh là người trực tiếp nuôi cháu Nh. Khi ly hôn anh yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Văn Đ xác định không đặt ra yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đối với chị Nguyễn Thị Minh Th: Mặc dù chị Th đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm việc và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng chị Th vẫn không đến Tòa án để làm việc theo nội dung giấy triệu tập của Tòa án mà không có lý do chính đáng. Do đó, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vắng mặt đối với chị Nguyễn Thị Minh Th theo đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HD tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh Đ được ly hôn với chị Th là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tiếp tục giao cháu Nguyễn Khánh Nh, sinh ngày 12/4/2010 cho anh Nguyễn Văn Đ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Chị Nguyễn Thị Minh Th được quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn Đ không đặt ra yêu cầu nên đề nghị không xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Do anh Nguyễn Văn Đ không đặt ra yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Văn Đ có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con với chị Nguyễn Thị Minh Th. Chị Nguyễn Thị Minh Th có địa chỉ cư trú tại huyện HD. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện HD.

Anh Nguyễn Văn Đ có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Văn Đ.

Chị Nguyễn Thị Minh Th đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, nhưng chị Th vẫn vắng mặt mà không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Nguyễn Thị Minh Th.

[2] Về nội dung vụ án: Anh Đ và chị Th chung sống với nhau trên tinh thần tự nguyện. Quá trình chung sống anh Đ và chị Th có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã NQA, huyện HD, tỉnh BL vào ngày 23/02/2018 và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên hôn nhân của anh Đ và chị Th là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Xét yêu cầu ly hôn của anh Đ đối với chị Th thì Hội đồng đồng xét xử thấy rằng: mục đích của hôn nhân là để tạo dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải biết yêu Thương, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng nhau tiến bộ, nhưng thời gian chung sống anh Đ và chị Th lại không làm được, mà còn phát sinh Nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn lại được. Hiện anh Đ và chị Th cũng đã sống ly thân với nhau. Trong thời gian qua cả anh Đ và chị Th đều không có biện pháp cụ thể nào để thể hiện muốn hàn gắn lại với nhau, anh Đ và chị Th không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Anh Đ xác định vợ chồng không còn khả năng tiếp tục chung sống, tình cảm vợ chồng không còn, nếu Tòa án giải quyết không cho chị ly hôn với chị Th thì chị cũng không trở về chung sống với chị Th được. Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống vợ chồng giữa anh Đ và chị Th là không thể hàn gắn lại được, cuộc sống chung đã không còn hạnh phúc, tình trạng hôn nhân của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đ đối với chị Th là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về nuôi con chung: Từ lúc vợ chồng anh Đ và chị Th sống ly thân với nhau anh Đ là người trực tiếp nuôi con chung. Anh Đ vẫn đảm bảo về điều kiện nuôi con và sự phát triển của con sau này, cháu Nguyễn Khánh Nh có nguyện vọng được sống với cha là anh Nguyễn Văn Đ khi cha mẹ cháu ly hôn, đây là ý kiến hoàn toàn tự nguyện của cháu Nh, không bị ai đe dọa hay ép buộc. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giao con cho anh Đ được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục con chung là hoàn toàn phù hợp.

Chị Nguyễn Thị Minh Th được quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn Đ không đặt ra yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Văn Đ xác định không đặt ra yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

[6] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm anh Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Nguyễn Văn Đ đối với chị Nguyễn Thị Minh Th; Xử cho anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn với chị Nguyễn Thị Minh Th.
  2. Về nuôi con chung: giao người con chung tên Nguyễn Khánh Nh, sinh ngày 12/4/2010 cho anh Nguyễn Văn Đ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

    Chị Nguyễn Thị Minh Th được quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở

    Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Văn Đ không đặt ra yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Văn Đ xác định không đặt ra yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007578 ngày 25 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện HD.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho anh Nguyễn Văn Đ và chị Nguyễn Thị Minh Th được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BL;
  • - VKSND huyện HD;
  • - Chi cục THADS huyện HD;
  • - UBND xã NQA;
  • - Các Đ sự;
  • - Lưu HS vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trương Hồng Diễm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HD - TỈNH BL về tranh chấp yêu cầu ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 71/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HD - TỈNH BL
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vụ án ly hôn Nguyễn Văn Đương - Nguyễn Thị Minh Thư
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger