1
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 71/2023/HS-ST
Ngày 20 tháng 12 năm 2023.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hòa
2. Ông Ngô Thanh Ngọc Cảnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân
dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Trọng Hữu - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Duy A (B), sinh năm 1993. Nơi cư trú: khóm N, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1967 và Nguyễn Kim H, sinh năm 1967; Anh, chị, em ruột có ba người, bị cáo là người thứ hai; bị cáo chưa có vợ, con.
Ngày 18/8/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn đưa ra xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” tuyên phạt bị cáo 02 năm tù.
Tiền sự: Ngày 11/3/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 14 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 10/01/2022, chấp hành xong quyết định.
Tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/3/2023, đến ngày 15/3/2023 tạm giam cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
- Chị Nguyễn Thúy A1, sinh năm 1996. Nơi cư trú: khóm N, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt)
- Anh Trần Thanh S, sinh năm 1985. Nơi cư trú: khóm T, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 06/3/2023, nhận được tin báo về tội phạm của quần chúng nhân dân, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T kết hợp cùng Công an thị trấn Núi Sập kiểm tra căn nhà bỏ hoang của ông Nguyễn Trường T (đã chết) tại khóm N, thị trấn N, huyện T. Lúc này có Nguyễn Duy A, Trần Thanh S trong căn nhà. Khi thấy lực lượng Công an đến, Duy A ném 02 bịch nylon xuống nền gạch phía trước nhà và chạy vào khu vực bếp ném thêm 02 bọc nylon bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng ra hông nhà thì bị lực lượng Công an phát hiện. Duy A khai tinh thể màu trắng trong 04 bịch nylon ném bỏ là ma túy đá, Duy A mua của người thanh niên không rõ họ tên địa chỉ, tại khu vực cổng chào, thuộc phường M, thành phố L với giá 700.000 đồng đem về nhà chia thành 04 bọc để sử dụng; riêng phần còn thừa lại, Duy A cho vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy, đồng thời sử dụng sim điện thoại số 0928.086.xxx gọi vào sim điện thoại số 0327.833.xxx của S rủ đến nhà T sử dụng ma túy nên lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.
Ngoài ra, Duy A còn cho biết thêm ngoài lần bị bắt quả tang ngày 06/3/2023, trước đó vào ngày 02/3/2023, Duy A còn cung cấp chất ma tuý và dụng cụ để cùng S sử dụng tại nhà của T1 thêm một lần. Chất ma tuý này Duy A mua của người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ ở khu vực cổng chào, thành phố L.
Ngày 14/3/2023, Duy A bị khởi tố, điều tra.
Vật chứng thu giữ: Bộ dụng cụ sử dụng ma túy (một chai nhựa nắp màu nâu, trên nắp có gắn 02 đoạn ống nhựa màu cam và trắng có gắn ống thủy tinh, một đầu bình phiểu), bật lửa, cân tiểu ly, 02 cây kéo, điện thoại di động hiệu Huawei Nova 3i màu đen, điện thoại di động hiệu Oppo F11 Pro màu xanh, điện thoại di động hiệu Nokia 130 màu đen, xe mô tô biển số 67K8-5765, xe gắn máy biển số 67ZA-0892 cùng các đồ vật, tài liệu có liên quan.
Theo Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 06/3/2023 của Công an thị trấn N, ghi nhận: Trần Thanh S, Nguyễn Duy A dương tính với Methamphetamine.
Tại Kết luận giám định số 43 ngày 14/3/2023 của Phòng K - Công an tỉnh A, ghi nhận: Mẫu M1 gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1.5215g; Mẫu M2 gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0.3672g; Mẫu M3 gửi đến giám định là ma túy, loại
3
Methamphetamine, khối lượng 0.1118g; Mẫu M4 gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0.0796g.
Kết luận giám định số 130 ngày 15/5/2023 của Phòng K - Công an tỉnh A, ghi nhận: Tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong 03 điện thoại di động và 01 máy tính bản (ký hiệu A1, A4) do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T gửi giám định chi tiết thể hiện trong phụ lục và đĩa DVD dữ liệu trích xuất kèm theo.
Tại Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 07/3/2023 của Công an huyện T, xác định:
Xe mô tô biển số 67K8-5765, số máy E432VN148880, số khung 040148880 do Quách Hữu M đứng tên sở hữu, nơi cư trú: Khóm Đ, thị trấn N, huyện T; xe gắn máy biển số 67ZA-0892, số máy VUMYG139FMBXD006930, số khung RNGKCB1VH91006930 do Ngô Thị Tuyết N đứng tên sở hữu, nơi cư trú: Khóm M, phường V, TP ., tỉnh An Giang.
Tại Cáo trạng số 65/CT-VKS-HS, ngày 12/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy A về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thúy A1 (em ruột của bị cáo) khai: Xe mô tô biển số 67K8-5765 của Thúy A1 mua lại của Quách Hữu M, với giá 4.000.000 đồng để làm phương tiện đi lại, nhưng chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Ngày 06/3/2023, Duy A lấy xe mô tô này làm phương tiện đi mua ma túy, Thúy A1 không biết, Thúy A1 xin nhận lại xe.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Thanh S khai phù hợp với lời khai của Nguyễn Duy A như đã nêu trên. S không góp tiền với Duy A để mua ma túy sử dụng. Xe gắn máy biển số 67ZA-0892 là của S mua của người tên Ú (không rõ nhân thân) với giá 1.000.000 đồng, S yêu cầu nhận lại xe gắn máy.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt, nhân thân bị cáo, đề nghị:
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy A mức án từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
4
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy A mức án từ 01 năm đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp hình phạt của hai tội xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 10 năm tù.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt bản án số 43/2023/HS-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Do hoàn cảnh bị cáo khó khăn, không có việc làm và thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy sau khi vụ án xảy ra, những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng, lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận giám định, các biên bản hoạt động tố tụng. Ngoài ra còn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận:
Ngày 06/3/2023 bị cáo Nguyễn Duy A đã thực hiện hành vi cung cấp ma túy để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với Trần Thanh S tại nhà ông Nguyễn Trường T, thuộc khóm N, thị trấn N, huyện T thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ 2,0801g ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng. Ngoài ra, vào ngày 02/3/2023 bị cáo còn cung cấp chất ma túy và dụng cụ để cùng Trần Thanh S sử dụng tại nhà của Nguyễn Trường T.
5
Căn cứ quy định pháp luật, hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Duy A đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Duy A nhận thức được rằng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép ma túy là phạm tội nhưng vẫn cố ý thực hiện, điều này thể hiện bị cáo xem thường pháp luật; từ hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy; đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự, an toàn xã hội, do đó cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[4] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[6] Tình tiết giảm nhẹ: Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ như xuất thân thành phần lao động, hiểu biết pháp luật hạn chế; trong quá trình điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
[7] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra thu giữ được các vật chứng, cần phân hóa ra để xử lý như sau:
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy và các vật chứng khác liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước các vật chứng liên quan đến vụ án.
- Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội bị cáo.
[8] Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo Duy A, do chưa xác định được nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Đối với Trần Thanh S có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã có văn bản đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.
[9] Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số
6
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy A (B) phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy A (B) 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy A (B) 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo chấp hành hình phạt 08 năm tù.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tổng hợp hình phạt bản án số 43/2023/HS-ST ngày 18/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội Cố ý gây thương tích. Buộc bị cáo Nguyễn Duy A (B) chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06 tháng 3 năm 2023.
Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy:
- 04 phong bì thư màu trắng, được niêm phong (Vụ án: 43/KL-KTHS (MT-GT) ngày 14/3/2023, ký hiệu Mẫu M1, M2, M3, M4) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thị Mỹ H1, Đỗ Hồng M1, bên trong có chứa mẫu vật còn lại sau khi đã giám định là 1,8863g (trong đó: M1: 1,4628; M2: 0,3169; M3: 0,0606 và M4: 0,0460);
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (một chai nhựa nắp màu nâu, trên nắp có gắn 02 đoạn ống nhựa màu cam và trắng có gắn ống thủy tinh, một đầu bình phiểu);
- 01 bật lửa màu xanh;
- 01 cân tiểu ly;
- 02 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 cái dĩa (tất cả đã qua sử dụng).
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
7
- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO F11 Pro, màu đen, tím, xanh, số Imel 1: 863980043128858, số Imel 2: 8639800431128841, không gắn sim (đã qua sử dụng);
- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu HUAWEI, nova 3i, màu đen, số Imel 1: 864188040584185, số Imel 2: 864188040614198, gắn sim số 0928086638 (đã qua sử dụng);
- Trả lại cho chị Nguyễn Thúy A1 01 xe mô tô biển số 67K8-5765, nhãn hiệu Susuki Smash, màu xanh, số khung: 491040148880 (đã qua sử dụng).
- Trả lại cho Trần Thanh S 01 xe mô tô biển số 67ZA-0892, nhãn hiệu MAX, màu xanh-trắng, số khung: 91006930, số máy 006930 (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động, nhãn hiệu NOKIA 130, màu đen, số seri 1: 3573480889519526, số seri 2: 357349080437528, gắn sim số 0327833119; 01 Ipad, nhãn hiệu Samsung, mặt sau màu trắng, mẫu thiết bị SM-T561 (tất cả đã qua sử dụng). Được để trong 01 phong bì phong bì thư được niêm phong bên ngoài có ghi Vụ 130/KL-KTHS (KTSĐT) ngày 15/5/2023 có in hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh A, có chữ ký giáp lai của giám định viên Giáp Thanh Tiển.
(Tất các vật chứng này hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 54/QĐ-VKSTS ngày 12 tháng 10 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn)
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Buộc bị cáo Nguyễn Duy A (B) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
8
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Triều |
Bản án số 71/2023/HS-ST ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG về vụ án hình sự: tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 71/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy A phạm tội Tổ chức và tàng trữ trái phép chất na túy
