TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 71/2023/DS-ST
Ngày: 20 – 10 – 2023
V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng"
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỂ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Huy Tùng.
- Bà Hà Ngân Kim Tới.
- Thư ký phiên tòa: Trần Quốc Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 88/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2023 về tranh chấp "Hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2023/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B (L1).
Địa chỉ trụ sở chính: Tầng 1,3,4,5,6 Tòa nhà T, số B đường T, phường T, quận H, thành phố H.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Minh L – Chức vụ: Giám đốc PGD thành phố S (Theo văn bản ủy quyền ngày 31/10/2022) (Có mặt).
Địa chỉ liên hệ: Số A T, phường C, thành phố S, tỉnh S.
- Bị đơn:
- Bà Sơn Thị Hồng X, sinh năm 1975 (Vắng mặt).
- Ông Sơn Minh T, sinh năm 1976 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh S.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 28/10/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Ngân hàng thương mại cổ phần B (LPB) trình bày:
Ngân hàng TMCP B (L1) chi nhánh S – PGD thành phố S (gọi tắt là Ngân hàng) có ký hợp đồng cho bà Sơn Thị Hồng X và ông Sơn Minh T vay vốn của Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng số HDTD35B202000201 ngày 25/7/2020, cụ thể như sau:
- Thời hạn hiệu lực của HMTD: 36 tháng kể từ ngày 25/7/2020 đến ngày 25/7/2023;
- Hạn mức tín dụng: 200.000.000 đồng.
- Phương thức cho vay: Cho vay theo hạn mức tín dụng;
- Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn nuôi bò sữa;
- Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 35B202000201/002 ngày 02/7/2021.
- Thời hạn khế ước nhận nợ: 11 tháng;
- Lãi suất cho vay: 12%/năm (cố định 3 tháng đầu);
- Lãi suất nợ gốc quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn;
- Lãi suất nợ lãi chậm trả: 11%/năm;
- Phương thức điều chỉnh lãi suất: Lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần theo quy định của Ngân hàng và được xác định như sau:
LScv = LScv + 4,1%/năm.
- Kỳ hạn trả nợ gốc: 02/6/2022.
- Kỳ hạn trả nợ lãi: Trả lãi 03 tháng/lần vào ngày 10 và được tính trên dư nợ thực tế.
- Ngày trả nợ cuối cùng: 02/6/2022.
- Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: Số phát hành BM 611619, số vào số cấp GCN CH00407 do UBND huyện T cấp ngày 21/2/2023, cấp cho ông Sơn Minh T và bà Sơn Thị Hồng X.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Sơn Thị Hồng X và ông Sơn Minh T đã vi phạm điều 7 tại hợp đồng hạn mức tín dụng số HDTD35B202000201 ngày 27/7/2020. Khách hàng đã không thanh toán nợ đầy đủ từ ngày 12/6/2022. Với tổng số tiền tạm tính đến ngày 20/10/2023 là 224.808.940 đồng. Trong đó: Gốc: 179.993.059 đồng; Lãi quá hạn: 44.815.881 đồng.
Bị đơn bà Sơn Thị Hồng X và ông Sơn Minh T không có lời trình bày do vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa nêu quan điểm:
Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định chính xác quan hệ pháp luật tranh chấp; thu thập chứng cứ đầy đủ, đúng pháp luật; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc đại diện nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền vốn và lãi còn nợ là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Trong vụ án này, nguyên đơn Ngân hàng TMCP B (Ngân hàng) khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Sơn Thị Hồng X và ông Sơn Minh T trả cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ và tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến ngày thanh toán dứt nợ. Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng".
- Bị đơn, bà Sơn Thị Hồng X và ông Sơn Minh T đã được triệu tập hợp lệ tại phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Tại phiên tòa, đương sự có mặt và đại diện Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án:
Ngày 25/7/2020, bà Sơn Thị Hồng X và ông Sơn Minh T có vay tiền tại Ngân hàng thương mại cổ phần B - Chi nhánh S (Ngân hàng) với số tiền vay là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Vay với mục đích: Bổ sung vốn nuôi bò sữa.
Để đảm bảo cho khoản nợ vay bà Sơn Thị Hồng X và ông Sơn Minh T đã thế chấp tài sản như sau: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: Số phát hành BM 611619, số vào số cấp GCN CH00407 do UBND huyện T cấp ngày 21/2/2023, cấp cho ông Sơn Minh T và bà Sơn Thị Hồng X.
Xét về hợp đồng tín dụng ngày 25/7/2020 giữa Ngân hàng với bà Sơn Thị Hồng X và ông Sơn Minh T là hoàn toàn tự nguyện và tuân thủ đúng các quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức nên công nhận hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng với bà Sơn Thị Hồng X và ông Sơn Minh T là hợp pháp.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà Sơn Thị Hồng X và ông Sơn Minh T đã không thực hiện đúng như hợp đồng. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần cử cán bộ trực tiếp đến gia đình để đôn đốc việc thực hiện hợp đồng nhưng đến nay số nợ đã quá hạn mà vẫn chưa thanh toán kể từ ngày 12/6/2022. Việc bà Sơn Thị Hồng X và ông Sơn Minh T không trả nợ gốc và lãi đúng hạn, không những vi phạm các điều khoản cam kết về nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng mà còn vi phạm các quy định tại Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự và Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Do đó Ngân hàng TMCP B do Tổng giám đốc đại diện theo pháp luật ủy quyền cho Giám đốc chi nhánh tại Sóc Trăng khởi kiện yêu cầu bà Sơn Thị Hồng X và ông Sơn Minh T thanh toán toàn bộ số dư nợ tạm tính đến ngày 20/10/2023 (ngày xét xử sơ thẩm) là:
- Gốc: 179.993.059 đồng;
- Lãi quá hạn: 44.815.881 đồng.
Tổng cộng: 224.808.940 là có căn cứ.
Về xử lý tài sản thế chấp:
- Thửa đất số 1867, tờ bản đồ số 3, diện tích 7.368m², loại đất trồng lúa, tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Thửa đất có vị trí tứ cận như sau:
- + Hướng Đông giáp thửa 1105;
- + Hướng Tây giáp thửa 1632;
- + Hướng Nam giáp thửa 1397;
- + Hướng Bắc giáp thửa 1096 + 1097 + 1098;
Trên thửa đất ông Sơn Minh T và bà Sơn Thị Hồng X hiện đang trồng lúa.
Trong trường hợp ông Sơn Minh T và bà Sơn Thị Hồng X không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xử lý tài sản thế chấp theo quy định của Luật thi hành án dân sự để thu hồi nợ.
[3] Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
[4] Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1/ Buộc ông Sơn Minh T và bà Sơn Thị Hồng X có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần B (LPB) tổng số tiền trong đó: Gốc: 179.993.059 đồng; Lãi quá hạn: 44.815.881 đồng. Tổng cộng: 224.808.940 đồng (Hai trăm hai mươi bốn triệu, tám trăm lẻ tám nghìn, chín trăm bốn mươi đồng) Tính đến ngày 20/10/2023 – Ngày xét xử sơ thẩm.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (Ngày 20/10/2023) ông Sơn Minh T và bà Sơn Thị Hồng X còn phải tiếp tục liên đới chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất vì vậy lãi suất mà ông Sơn Minh T và bà Sơn Thị Hồng X phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần B cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp theo từng thời điểm thanh toán.
2/ Về xử lý tài sản thế chấp: Trong trường hợp vợ chồng ông Sơn Minh T và bà Sơn Thị Hồng X không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (L2), thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xử lý tài sản thế chấp: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: Số phát hành BM 611619, số vào số cấp GCN CH00407 do UBND huyện T cấp ngày 21/2/2023, cấp cho ông Sơn Minh T và bà Sơn Thị Hồng X. Thửa đất số 1867, tờ bản đồ số 3, diện tích 7.368m², loại đất trồng lúa, tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
3/ Về chi phí tố tụng:
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần B không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp.
- Ông Sơn Minh T và bà Sơn Thị Hồng X phải liên đới chịu 800.000₫ (Tám trăm nghìn đồng). Số tiền này vợ chồng ông T, bà X có nghĩa vụ liên đới hoàn trả lại cho Ngân hàng.
4/ Về án phí:
- Ông Sơn Minh T và bà Sơn Thị Hồng X phải liên đới nộp 11.240.447₫ (Mười một triệu, hai trăm bốn mươi nghìn, bốn trăm bốn mươi bảy đồng) tiền án phí sơ thẩm.
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần B không phải nộp án phí sơ thẩm. Ngân hàng được nhận lại 5.317.899đ (Năm triệu, ba trăm mười bảy nghìn, tám trăm chín mươi chín đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0006791 ngày 18/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh S.
Báo cho các đương sự biết, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh S xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 26 và 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Hoàng |
Bản án số 71/2023/DS-ST ngày 20/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 71/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/10/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP B yêu cầu vợ chồng ông T, bà X thanh toán số tiền 224.808.940đ
