Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲ CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 71/2024/HS-ST

Ngày: 20 – 9 – 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Đông.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lương Văn Duẩn.

2/ Bà Phan Thị Duệ.

- Thư ký phiên toà: Bà Vị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vi Thị Việt – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2024/TLST – HS ngày 23 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn T, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1990 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản M, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn N và bà Lò Thị T1; có vợ là Vi Thị D và 03 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2024 đến nay. (Có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Quỳnh T2 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N – Công tác tại Chi nhánh trợ giúp pháp lý Nhà nước số 2, thị xã T, tỉnh Nghệ An. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 09/5/2024 Hoàng Văn T đưa con đi học tại trường mầm non xã C tại bản N, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Sau khi đưa con vào lớp học xong T ra ngoài cổng trường để về nhà thì có một người đàn ông không quen biết mà T mới gặp lần đầu đến bắt chuyện và hỏi T “Em nghiện không” (ý hỏi có sử dụng ma túy không) thì T trả lời “Em có”, người đàn ông hỏi T có mua ma túy không và T đồng ý mua với số tiền là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), sau khi nhận tiền người đàn ông lấy từ trong túi áo bên trái phía trước đang mặc ra 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng được dán kín hai đầu, bên trong có chứa chất ma túy đưa cho T rồi rời đi. Sau khi về nhà T cất giấu đoạn ống nhựa có chứa chất ma túy vào khe gạch ở viên gạch trên tường trong phòng ngủ của mình để sau này sử dụng dần. Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về dấu hiệu tội phạm tại nhà ở của T, khoảng 12 giờ cùng ngày khi T đang ở nhà thì bị lực lượng Công an huyện Q tiến hành kiểm tra hành chính theo quy định, do lo sợ nên T đã tự nguyện vào phòng ngủ lấy ống hút nhựa có chứa chất ma túy cất giấu trước đó ra giao nộp và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện của mình.

Tại biên bản mở niêm phong vật chứng xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, lập ngày 09/5/2024 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Nghệ An, xác định: Sau khi mở niêm phong, bên trong gói niêm phong có 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng được dán kín hai đầu, bên trong chứa chất rắn màu trắng (nghi là ma túy), có khối lượng cả vỏ là 0,175g (Không phẩy một trăm bảy mươi lăm gam); Sau khi loại bỏ vỏ, số chất rắn màu trắng có khối lượng là 0,12g (Không phẩy mười hai gam). Cán bộ kỹ thuật hình sự trích toàn bộ chất rắn màu trắng nói trên để đưa đi giám định tính chất ma túy. Số vật chứng còn lại bao gồm đoạn ống hút nhựa màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ sau khi kiểm tra, lấy mẫu xong được niêm phong lại theo đúng quy định.

Kết luận giám định số: 514/KL-KTHS(Đ2-MT), ngày 14/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “- Mẫu chất rắn màu trắng thu giữ của Hoàng Văn T gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

- Số chất rắn màu trắng thu giữ của Hoàng Văn T có khối lượng là 0,12g (không phẩy mười hai gam).”

Bản cáo trạng số: 69/CT-VKS-QC ngày 22/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam. Buộc bị cáo chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, ngoài ra đề nghị không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại gồm đoạn ống hút nhựa màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ đã được niêm phong theo quy định.

- Bản bào chữa của người bào chữa cho bị cáo: Không có ý kiến tranh luận gì về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc đến các yếu tố bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, có trình độ nhận thức về pháp luật hạn chế, bị cáo phạm tội lần đầu và nhằm mục đích để thỏa mãn cơn nghiện, không nhằm mục đích vụ lợi bất chính, khối lượng ma túy ít, gia đình hoàn cảnh khó khăn đang nuôi con nhỏ, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Từ những phân tích đã nêu đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là hợp lý. Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đối với phần xử lý vật chứng và án phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, không bổ sung thêm vào bản bào chữa cho mình. Lời nói sau cùng tại phiên tòa bị cáo nhận tội và xin xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định có tội: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra Công an thu thập có tại hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại; kết luận giám định; bản tự khai, biên bản hỏi cung, lấy lời khai của bị cáo và người liên quan, phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, cũng như những tài liệu, chứng cứ khách quan khác thu thập có trong hồ sơ, đủ căn cứ xác định:

Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 09/5/2024 sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về hoạt động có dấu hiệu tội phạm tại nhà của Hoàng Văn T ở bản M, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Lực lượng Công an huyện Q tiến hành kiểm tra hành chính theo quy định, do lo sợ nên T tự nguyện vào nơi mình cất giấu trước đó lấy ra 01 (một) ống hút nhựa màu trắng, được dán kín hai đầu bên trong có chứa chất ma túy (H) với mục đích để sử dụng dần giao nộp lại và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện của mình, ống ma túy sau khi loại bỏ vỏ có trọng lượng là 0,12g (Không phẩy mười hai gam). Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, theo như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an ninh xã hội tại địa phương, bởi ma túy là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và bệnh truyền nhiễm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của chất ma túy cũng như việc thực hiện các hành vi trái phép liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân, để nhằm thỏa mãn nhu cầu bất hợp pháp của cá nhân đã cố ý phạm tội, nên cần lên cho bị cáo mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để bị cáo có thời gian được giáo dục, cải tạo, sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.

[4] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng thêm hình phạt bổ sung. Tuy nhiên theo tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện, bị cáo là lao động tự do không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, hiện đang bị tạm giam, không có tài sản riêng và khả năng thi hành án, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Căn cứ vào lời khai nhận của bị cáo Cơ quan điều tra Công an đã tiến hành điều tra, xác minh về lai lịch người đàn ông bán ma túy cho bị cáo tại khu vực cổng trường mầm non xã C nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

[7] Về vật chứng: Khối lượng ma túy (heroine) 0,12g (không phẩy mười tám gam) thu từ bị cáo được gửi đi giám định hết, những vật chứng còn lại gồm đoạn ống hút nhựa màu trắng cùng vỏ bao niêm phong cũ là những vật không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 09/5/2024.

  2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại gồm: Đoạn ống hút nhựa màu trắng và vỏ bao niêm phong cũ được bỏ vào 01 (một) phong bì thư dán kín mặt trước ghi: “Vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu giám định thuộc vụ Hoàng Văn T - Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 09/5/2024 tại bản Mưn, xã C, chuyện Q, tỉnh Nghệ An”...

    (Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 23/8/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An).

  3. Án phí: Căn cứ vào Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Hoàng Văn T chịu án phí Hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Quỳ Châu;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Quỳ Châu;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Quỳ Châu;
  • - Cơ quan THADS huyện Quỳ Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Châu Nga, huyện Quỳ Châu, NA;
  • - Bị cáo;
  • - lưu HS, VP;

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hà Văn Đông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 71/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T nghiện chất ma túy nên mua được 01 gói ma túy từ người không rõ lai lịch để sử dụng và bị phát hiện, số lượng ma túy Heroine thu được là 0,12g.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger