|
TAND HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 71/2024/HS-ST Ngày 19 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Tuấn
Các hội thẩm nhân dân: Ông Vàng A Măng, ông Giàng A Páo
- Thư ký phiên toà:
Ông Phùng Trung Sơn – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ tham gia phiên toà:
Ông Lầu Trung Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở TAND huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 76/2024/TLST - HS ngày 28/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST-HS ngày 09/9/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn N – Sinh năm 2002 tại huyện S, tỉnh Lai Châu; Giới tính: Nam; tên gọi khác: không; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở hiện nay: bản Noong Hẻo 1, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Thái; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông: Lò Văn P – sinh năm 1984, con bà: Lò Thị Đ – sinh năm 1986; Gia đình bị cáo có 03 anh, chi, em, bị cáo là con thứ 01 trong gia đình; Vợ, con: chưa có. Tiền sự, tiền án: không
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/5/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện S cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 17 giờ ngày 24/5/2024, Lò Văn N đang ở khu vực bản Noong Hẻo 1, xã N, huyện S thì gặp bạn tên là X, nhà ở bản N, xã N, huyện S điều khiển xe mô tô (không nhớ biển kiểm soát) đến rủ N cùng nhau lên xã P, huyện S tìm mua Heroine để sử dụng, N đồng ý. X điều khiển xe mô tô chở N đến ngã ba, đường rẽ vào bản Pa Khóa, xã P thì dừng xe lại, N và X thống nhất mỗi người góp 200.000 đồng, sau đó N đưa cho X 200.000 đồng để X đi vào trong bản Pa Khóa mua Heroine, còn N đứng đợi ở đó. Khoảng 30 phút sau, X quay lại đưa cho N 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh, N cầm trong lòng bàn tay trái rồi ngồi phía sau xe của X đi về nhà.
Hồi 18 giờ 00 phút cùng ngày, khi đến khu vực đầu bản Noong Om xã N, huyện S thì bị Tổ công tác công an xã N, huyện S đang làm nhiệm vụ, yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính. Lúc này, X tăng ga bỏ chạy thoát. Tổ công tác phát hiện Nghiến ném xuống nền đất 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh. Tại đây, Lò Văn N khai nhận gói Heroine trên là của N và X góp tiền mua về cùng nhau sử dụng, cơ quan điều tra bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng theo quy định của pháp luật. Lò Văn N khai mục đích tàng trữ ma túy để dụng cho bản thân.
Tại bản Kết luận giám định tư pháp số 172 ngày 25/5/2024 của Người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: 01 gói chất bột màu trắng gửi giám định có khối lượng 0,2 gam. Tại bản kết luận giám định số 609/KL-KTHS ngày 02/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh L kết luận: mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 0,2 gam Heroine thu giữ của Lò Văn N, Cơ quan cảnh sát điều tra đã gửi toàn bộ đi giám định, mẫu vật gửi giám định không hoàn lại. Còn lại 01 mảnh nilon màu xanh.
Bản cáo trạng số 55/CT - VKSSH ngày 28/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ đã Truy tố bị cáo Lò Văn N ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các kết luận giám định và bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Lò Văn N từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 mảnh nilon màu xanh.
Áp dụng Điều 135, Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí và không có tranh luận gì đối với đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để khẳng định: Hồi 18 giờ 00 phút ngày 24/5/2024, tại khu vực đầu bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu, bị cáo Lò Văn N đang tàng trữ trái phép 0,2 gam Heroine với mục đích để sử dụng, thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang, thu giữ cùng vật chứng.
Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý đặc biệt về các chất ma tuý của Nhà nước, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội. Ý thức được điều đó nhưng vì mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân bị cáo vẫn cố ý phạm tội nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, xét nhân thân và các tình tiết Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, răn đe bị cáo, giúp bị cáo cải tạo, phấn đấu trở thành công dân tốt, sống tôn trọng quy định của pháp luật và có ích cho gia đình, xã hội. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đề nghị về mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ nên cần được chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo làm nghề lao động tự do công việc và thu nhập không ổn định, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu, tiêu hủy 01 mảnh nilon màu xanh.
[6] Về các vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc số Heroine, Lò Văn N khai là góp tiền cho bạn tên X trú tại bản Nậm Coóng, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu đi mua để cùng nhau sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S tiến hành xác minh nhân thân, lai lịch của người đàn ông này tại Công an xã N, huyện S. Kết quả xác minh, tại bản N, xã N, huyện S có một người đàn ông có họ, tên đầy đủ là Vì Văn X1, sinh năm 1995, giống với đặc điểm bị cáo Lò Văn N trình bày. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã nhiều lần xác minh nhưng Vì Văn X1 không có mặt tại địa phương. Ngoài lời khai duy nhất của bị cáo Lò Văn N, không có có chứng cứ khác chứng minh nên Cơ quan quan điều tra không đủ cơ sở để xử lý đối với Vì Văn X1. Cơ quan điều tra đã tách hành vi đối với Vì Văn X1 để tiếp tục xác minh. Kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật.
[7] Về án phí:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 38 Bộ luật hình sự. Khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án đối với bị cáo:
- Tuyên bố bị cáo Lò Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn N: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/5/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án: Tịch thu, tiêu hủy 01 mảnh nilon màu xanh. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 05/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ).
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ toạ phiên toà Lê Minh Tuấn |
Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 71/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn Nghiến phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma
