Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP TRÀ VINH

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/DS-ST

Ngày: 19/8/2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng

tín dụng, hợp đồng thế chấp”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Cao Minh Sơn.

2. Ông Kiên Ngọc Trương

Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Hồng Vân – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng D, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2024/TLST-DS ngày 16 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 240/2024/QÐST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2024/QÐST-DS ngày 29/7/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P3 (H);
    Địa chỉ: Số B Bis N, phường B, Quận A, TP ..
    Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T là Tổng giám đốc.
    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lư Thành P, là Giám đốc H; Uỷ quyền lại cho ông Ong Vĩnh P1 tham gia tố tụng tại phiên toà (theo văn bản uỷ quyền ngày 16/01/2024), có mặt.
    Địa chỉ: V, đường N, khóm C, phường B, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
  2. Bị đơn: Ông Đỗ Minh S, sinh năm 1962, vắng mặt;
    Địa chỉ: Số E, khóm A, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đỗ Thị Bích P2, sinh năm 1964, có đơn xin xét xử vắng mặt.
    Địa chỉ: khóm A, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày như sau:

Ngày 22/02/2022, ông Đỗ Minh S có ký kết với Ngân hàng TMCP P4 – Chi nhánh T1 (gọi tắt là Ngân hàng) hợp đồng tín dụng số 7189/22MN/HĐTD. Ngân hàng đã giải ngân cho ông Đỗ Minh S số tiền vay gốc là 1.400.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ bốn trăm triệu đồng) theo Khế ước nhận nợ số 7189/22MN/HĐTD/KUNN01 ngày 23/02/2022, lãi suất thỏa thuận là 10%/năm, cố định 03 tháng kể từ ngày ông Đỗ Minh S nhận tiền, các kỳ tiếp theo lãi suất áp dụng = Lãi suất LS13 + 4%/năm. Mục đích vay: Bổ sung vốn mua máy móc, thiết bị,... phục vụ phòng khám tư nhân Đỗ Minh S (Thanh toán tiền theo hợp đồng kinh tế số 02/HĐB/2022 ngày 21/01/2022), thời hạn vay: 84 tháng (Từ ngày 24/02/2022 đến ngày 23/02/2029). Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Đỗ Minh S đã thanh toán cho Ngân hàng được số tiền vay gốc là 200.000.00 đồng (Bằng chữ: Hai trăm triệu đồng), tiền lãi là 155.369.032 đồng. Từ ngày 25/05/2023 ông Đỗ Minh S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, ông Đỗ Minh S không thực hiện trả nợ vay theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Ngày 03/03/2023, ông Đỗ Minh S có ký kết với Ngân hàng TMCP P4 – Chi nhánh T1, Hợp đồng tín dụng số 5601/23MN/HĐTD ngày 03/03/2023. Ngân hàng đã giải ngân cho ông Đỗ Minh S số tiền 150.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm năm mươi triệu đồng), theo Khế ước nhận nợ số 5601/23MN/HĐTD/KUNN01 ngày 06/03/2023, lãi suất thỏa thuận là 13.5%/năm cố định 03 tháng kể từ ngày ông Đỗ Minh S nhận tiền, các kỳ tiếp theo lãi suất áp dụng = Lãi suất LS13 + 4.5%/năm. Mục đích vay: Tiêu dùng, mua sắm vật dụng gia đình. Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng này, ông Đỗ Minh S đã thanh toán cho Ngân hàng được số tiền vay gốc là 11 đồng, tiền lãi là 50.000 đồng. Từ ngày 25/04/2023 ông Đỗ Minh S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, ông Đỗ Minh S không thực hiện trả nợ vay theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho các hợp đồng tín dụng nêu trên thì ông Đỗ Minh S đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản là nhà và đất tại thửa đất số 205, tờ bản đồ số 49 tọa lạc tại khóm A, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 799242 số vào sổ cấp GCN CS 15462 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 13/08/2020 cho ông Đỗ Minh S đứng tên, cụ thể theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 5079/22MN/HĐBĐ ngày 22/02/2022.

Do ông S không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán nợ, đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Đỗ Minh S vẫn không có thiện chí trả nợ. Nay nguyên đơn yêu cầu toà án giải quyết như sau:

Yêu cầu Ông Đỗ Minh S có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc và lãi còn nợ theo các hợp đồng tín dụng nêu trên tính đến ngày 19/8/2024 là: 1.639.385.273 đồng. Cụ thể các số tiền còn nợ theo các hợp đồng tín dụng như sau:

  • Hợp đồng tín dụng số 7189/22MN/HĐTD ngày 22/02/2022, tổng số tiền nợ là 1.456.652.177 đồng, trong đó nợ gốc là 1.200.000.000 đồng, nợ lãi là 256.652.177 đồng (lãi trong hạn 222.433.972 đồng, lãi quá hạn 34.218.205 đồng).
  • Hợp đồng tín dụng số 5601/23MN/HĐTD ngày 03/03/2023, tổng số tiền nợ là 182.733.096 đồng, trong đó nợ gốc là 149.999.989 đồng, nợ lãi là 32.733.107 đồng (lãi trong hạn 25.210.165 đồng, lãi quá hạn 7.522.942 đồng).

Nếu trường hợp ông Đỗ Minh S không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, đề nghị Tòa án cho Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý phát mãi tài sản thế chấp là nhà và đất tại thửa đất số 205, tờ bản đồ số 49 tọa lạc tại khóm A, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 799242 số vào sổ cấp GCN CS 15462 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 13/08/2020 cho ông Đỗ Minh S đứng tên, cụ thể theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 5079/22MN/HĐBĐ ký ngày 22/02/2022. Theo đó, toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản đảm bảo được dùng để cấn trừ nghĩa vụ trả nợ của ông Đỗ Minh S đối với Ngân hàng.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Đỗ Minh S đều vắng mặt các lần triệu tập của Tòa án nên không có lời khai.

Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Bích P2 cũng vắng mặt các lần triệu tập của Tòa án và có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại biên bản lấy lời khai ngày 14/6/2024 thì bà P2 trình bày như sau:

Đỗ Thị Bích P2 là em ruột của ông ông Đỗ Minh S và bà được ông S giao cho quản lý dùm căn nhà gắn liền với thửa đất số 205, tờ bản đồ số 49 tọa lạc tại khóm A, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Trong quá trình bà quản lý sử dụng nhà và đất dùm cho ông S thì bà không có tôn tạo, sửa chửa gì. Khi Toà án tống đạt các văn bản tố tụng trong vụ án này thì bà có nhận và có báo lại với ông S qua điện thoại thì ông S nói với bà là ông S thống nhất đồng ý giao nhà và đất thế chấp nêu trên để Ngân hàng phát mãi thu hồi nợ. Hiện bà P2 chỉ liên hệ với ông S qua điện thoại, còn địa chỉ cư trú cụ thể của ông S ở đâu thì bà P2 không biết. Nay trong vụ án này, bà P2 không có yêu cầu độc lập và bà thống nhất đồng ý giao tài sản là nhà và đất nêu trên cho Ngân hàng phát mãi để thu hồi nợ của ông S còn nợ Ngân hàng. Ngoài ra bà không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và buộc bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Tại phiên tòa hôm nay: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có mặt. Bị đơn ông Đỗ Minh S có ký kết các hợp đồng tín dụng với nguyên đơn, hợp đồng được lập thành văn bản và ông Đỗ Minh S đã cung cấp địa chỉ cụ thể ghi trong hợp đồng là số 56, khóm A, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Hiện nay, ông S không có mặt tại địa chỉ ghi trong hợp đồng, nhưng ông S không thông báo với nguyên đơn về việc thay đổi địa chỉ nơi cư trú mới nên xem như ông S cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của ông S ghi trong hợp đồng là đúng quy định tại khoản 5 Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Đỗ Minh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Bích P2 vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Đỗ Minh S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Bích P2. Căn cứ Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhận thấy: Ông Đỗ Minh S có giao kết với Ngân hàng các hợp đồng tín dụng bao gồm: Hợp đồng tín dụng số 7189/22MN/HĐTD ngày 22/02/2022 và Hợp đồng tín dụng số 5601/23MN/HĐTD ngày 03/03/2023. Căn cứ vào các hợp đồng thì Ngân hàng đã giải ngân cho ông S số tiền vay như sau:

  • Hợp đồng tín dụng số 7189/22MN/HĐTD ngày 22/02/2022: Ngân hàng đã giải ngân cho ông Đỗ Minh S số tiền vay gốc là 1.400.000.000 đồng, theo Khế ước nhận nợ số 7189/22MN/HĐTD/KUNN01 ngày 23/02/2022, lãi suất thỏa thuận là 10%/năm cố định 03 tháng kể từ ngày ông Đỗ Minh S nhận tiền, các kỳ tiếp theo lãi suất áp dụng = Lãi suất LS13 + 4%/năm. Mục đích vay: Bổ sung vốn mua máy móc, thiết bị,... phục vụ phòng khám tư nhân Đỗ Minh S, thời hạn vay: 84 tháng (từ ngày 24/02/2022 đến ngày 23/02/2029). Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Đỗ Minh S đã thanh toán cho Ngân hàng được số tiền vay gốc là 200.000.000 đồng, tiền lãi là 155.369.032 đồng.
  • Hợp đồng tín dụng số 5601/23MN/HĐTD ngày 03/03/2023. Ngân hàng đã giải ngân cho ông Đỗ Minh S số tiền 150.000.000 đồng, theo Khế ước nhận nợ số 5601/23MN/HĐTD/KUNN01 ngày 06/03/2023, lãi suất thỏa thuận là 13.5%/năm cố định 03 tháng kể từ ngày ông Đỗ Minh S nhận tiền, các kỳ tiếp theo lãi suất áp dụng = Lãi suất LS13 + 4.5%/năm. Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng này, ông Đỗ Minh S đã thanh toán cho Ngân hàng được số tiền vay gốc là 11 đồng, tiền lãi là 50.000 đồng.

Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho các hợp đồng tín dụng nêu trên thì ông S đã thế chấp cho Ngân hàng tài sản là: Quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tại thửa đất số 205, tờ bản đồ số 49, tọa lạc tại khóm A, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 799242 số vào sổ cấp GCN CS 15462 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 13/08/2020 cho ông Đỗ Minh S1 đứng tên, cụ thể theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 5079/22MN/HĐBĐ ký ngày 22/02/2022.

Nhận thấy các thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp nêu trên không trái với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp nêu trên các bên giao kết là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Trong quá trình thực hiện các hợp đồng nêu trên, ông S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Ngân hàng, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ lãi, nợ gốc đúng hạn như thỏa thuận trong hợp đồng. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở về việc yêu cầu ông S thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng nhưng đến nay nghĩa vụ vẫn chưa được thực hiện xong. Tính đến thời điểm tại phiên toà hôm nay, ông S cũng không có cung cấp cho Toà án thêm tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh nhằm phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Đỗ Minh S có trách nhiệm trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc và lãi còn nợ theo các hợp đồng tín dụng nêu trên tính đến ngày 19/8/2024 là: 1.639.385.273 đồng. Cụ thể các số tiền còn nợ theo các hợp đồng tín dụng như sau:

  • Hợp đồng tín dụng số 7189/22MN/HĐTD ngày 22/02/2022, tổng số tiền nợ là 1.456.652.177 đồng, trong đó nợ gốc là 1.200.000.000 đồng, nợ lãi là 256.652.177 đồng (lãi trong hạn 222.433.972 đồng, lãi quá hạn 34.218.205 đồng).
  • Hợp đồng tín dụng số 5601/23MN/HĐTD ngày 03/03/2023, tổng số tiền nợ là 182.733.096 đồng, trong đó nợ gốc là 149.999.989 đồng, nợ lãi là 32.733.107 đồng (lãi trong hạn 25.210.165 đồng, lãi quá hạn 7.522.942 đồng).

Đồng thời, yêu cầu ông S tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Trường hợp ông Đỗ Minh S không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý phát mãi tài sản ông S đã thế chấp là Quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tại thửa đất số 205, tờ bản đồ số 49 tọa lạc tại khóm A, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 799242 số vào sổ cấp GCN CS 15462 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 13/08/2020 cho ông Đỗ Minh S, cụ thể theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 5079/22MN/HĐBĐ ký ngày 22/02/2022 để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ của ông Đỗ Minh S tại H, thì ông Đỗ Minh S phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.

Xét các yêu cầu này của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 292; 299; 319; 301; 307; 320; 323; 324; 357; 463; 466; 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91; 94; 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án, không có nội dung trình bày ý kiến, cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để phản bác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

[4] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Bích P2 có ý kiến thống nhất giao tài sản thế chấp nêu trên cho Ngân hàng phát mãi để thu hồi nợ nên Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến tự nguyện của bà P2.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 147, 157, 158 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị đơn ông Đỗ Minh S phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 91; Điều 92; Điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 177; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng các Điều 292; 299; 319; 301; 307; 320; 323; 324; 357; 463; 466; 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 91; 94; 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P4 (H).

Buộc ông Đỗ Minh S có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP P4 – chi nhánh T1 tổng số tiền vay gốc và lãi còn nợ tính đến ngày 19/8/2024 là 1.639.385.273 đồng của các Hợp đồng tín dụng cụ thể là:

  • Hợp đồng tín dụng số 7189/22MN/HĐTD ngày 22/02/2022, tổng số tiền nợ là 1.456.652.177 đồng, trong đó nợ gốc là 1.200.000.000 đồng, nợ lãi là 256.652.177 đồng (lãi trong hạn 222.433.972 đồng, lãi quá hạn 34.218.205 đồng).
  • Hợp đồng tín dụng số 5601/23MN/HĐTD ngày 03/03/2023, tổng số tiền nợ là 182.733.096 đồng, trong đó nợ gốc là 149.999.989 đồng, nợ lãi là 32.733.107 đồng (lãi trong hạn 25.210.165 đồng, lãi quá hạn 7.522.942 đồng).

Kể từ ngày 20/8/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Đỗ Minh S còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng nêu trên. Trường hợp trong các Hợp đồng tín dụng nêu trên các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Đỗ Minh S phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Nếu trường hợp ông Đỗ Minh S không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý phát mãi tài sản mà ông Đỗ Minh S đã thế chấp là Quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tại thửa đất số 205, tờ bản đồ số 49, tọa lạc tại khóm A, phường I, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 799242 số vào sổ cấp GCN CS 15462 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp ngày 13/08/2020 cho ông Đỗ Minh S đứng tên, cụ thể theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 5079/22MN/HĐBĐ ký ngày 22/02/2022 để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ của ông Đỗ Minh S tại Ngân hàng, thì ông Đỗ Minh S phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.

Buộc bà Đỗ Thị Bích P2 có nghĩa vụ di dời nơi ở đi nơi khác và giao lại toàn bộ tài sản thế chấp là nhà và đất theo hợp đồng thế chấp nêu trên cho Ngân hàng khi Ngân hàng có yêu cầu phát mãi.

Về án phí dân sự sơ thẩm là 61.181.558 đồng (sáu mươi mốt triệu, một trăm tám mươi mốt ngàn, năm trăm năm mươi tám đồng): Buộc bị đơn ông Đỗ Minh S phải chịu toàn bộ số tiền án phí là 61.181.558 đồng (sáu mươi mốt triệu, một trăm tám mươi mốt ngàn, năm trăm năm mươi tám đồng). Nguyên đơn không phải chịu án phí nên hoàn trả lại cho nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 28.300.000 đồng (Hai mươi tám triệu, ba trăm ngàn đồng) theo lai thu số 0000085 ngày 15/01/2024, tại Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền chi phí tố tụng là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) theo Phiếu thu ngày 12/7/2024 của Toà án nhân dân thành phố Trà Vinh. Quá trình giải quyết vụ án, đã chi với số tiền tổng cộng là 1.795.000 đồng (một triệu bảy trăm chín mươi lăm ngàn đồng). Buộc ông Đỗ Minh S phải chịu toàn bộ số tiền chi phí tố tụng là 1.795.000 đồng (một triệu bảy trăm chín mươi lăm ngàn đồng), do nguyên đơn đã nộp tạm ứng trước nên buộc ông Đỗ Minh S có trách nhiệm hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền chi phí tố tụng là 1.795.000 đồng (một triệu bảy trăm chín mươi lăm ngàn đồng). Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng chi phí tố tụng còn dư là 1.205.000 đồng (một triệu hai trăm lẻ năm ngàn đồng), nhận tại bộ phận thủ quỹ Toà án nhân dân thành phố Trà Vinh khi Bản án này có hiệu lực pháp luật.

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thì được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, phải thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TV;
  • - VKSND TPTV;
  • - Chi cục THADSTPTV;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/DS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp

  • Số bản án: 71/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger