Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 71/2024/HS- ST

Ngày 17/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Kiên Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Quách Đình Mạnh.
  2. Ông Nguyễn Thế Đức.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Lê Nhung– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Huân- Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 65/2024/TLST- HS ngày 14 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn H, sinh năm 2001 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện V, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; nghề nghiệp: Lái xe Taxi; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1975 và bà Trương Thị L, sinh năm 1980; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 26/3/2024 đến ngày 01/4/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ (có mặt tại phiên tòa).

2. Nguyễn Minh Q, sinh năm 2001 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn A, xã A, huyện V, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Số F, ngõ A V, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1974 và bà Hoàng Thu H2, sinh năm 1982; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 26/3/2024 đến ngày 01/4/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ (có mặt tại phiên tòa).

* Người làm chứng: Anh Tô Văn S, sinh năm 2001; nơi cư trú: Thôn N, xã A, huyện V, thành phố Hải Phòng (vắng mặt).

*Người chứng kiến:

- Ông Vũ Văn H3, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

- Ông Lê Hồng P, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H làm nghề lái xe taxi tại khu vực bến xe thị trấn V, huyện V, thành phố Hải Phòng. Khoảng 17 giờ ngày 25/3/2024, H điều khiển xe ôtô nhãn hiệu Hyundai Accent, biển kiểm soát 15K-171.27 chở một khách là đàn ông khoảng 35 tuổi từ bến xe thị trấn V về huyện Đ, tỉnh Thái Bình. Trên đường đi nói chuyện, người này nói với H là bản thân có sử dụng ma tuý kẹo, ke và hỏi H có chỗ nào bán kẹo, ke không thì lấy bán cho 05 viên kẹo (tức ma tuý tổng hợp dạng thuốc lắc), H đồng ý. Khi H chở người đàn ông này về đến địa phận thôn L, xã Đ, huyện Đ thì người này xuống xe và bảo H “Khoảng 23 giờ cùng ngày mang đến khu vực này bán cho 05 viên “thuốc lắc”, hai bên thỏa thuận giá 350.000 đồng/viên”, H đồng ý quay xe đi về Hải Phòng. Khoảng 21 giờ cùng ngày H gọi điện thoại qua ứng dụng Zalo cho bạn là Nguyễn Minh Q hiện đang làm quản lý nhân viên phục vụ tại một số quán kinh doanh Karaoke trên địa bàn phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng và bảo Q mua cho 05 viên thuốc lắc. Q đồng ý, báo giá 300.000 đồng/viên và hai bên hẹn giao ma túy tại chân cầu vượt khu vực Trung tâm thương mại A địa phận phường D, quận L, thành phố Hải Phòng. Sau khi H gọi điện mua ma túy thì Q mượn xe mô tô của một khách hát Karaoke không biết tên, địa chỉ đi đến khu vực đường T địa phận quận H, thành phố Hải Phòng mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ khoảng từ 30 đến 35 tuổi 05 viên ma tuý tổng hợp với giá 250.000 đồng/01 viên rồi đi ra chân cầu vượt khu vực Trung tâm thương mại A giao ma túy cho H như đã hẹn. Nguyễn Văn H sau khi gọi điện cho Q để hỏi mua ma túy, H gọi điện rủ Tô Văn S là bạn cùng xã đi chơi cùng, S đồng ý và H về quán điện tử ở xã A đón S đi cùng. H điều khiển xe ô tô chở S đến khu vực chân cầu vượt Trung tâm thương mại A dừng lại đợi Q, lúc này S xuống xe đi vệ sinh cánh đó khoảng 15-20m, trong lúc S đi vệ sinh thì Q đến chân cầu vượt thấy xe của H đỗ ở chân cầu vượt Q mở cửa ngồi vào trong xe bên ghế phụ xe ô tô (H vẫn ngồi ghế lái), Q đưa cho H 01 túi nilon trong suốt có mép cài nhựa viền màu đỏ, bên trong chứa 05 viên ma tuý tổng hợp, H cầm lấy bỏ vào túi quần bên phải đang mặc và nói với Q “Hiện tại chưa có tiền, sau khi bán được trả cho Q với giá thoả thuận là 1.500.000 đồng”, Q đồng ý đi về. H đợi S đi vệ sinh xong quay lại lên xe rồi H điều khiển xe ô tô chở S đi đến khu vực đường Q, địa phận thôn L, xã Đ đã hẹn với khách từ lúc chiều để bán số ma tuý trên kiếm lời. Trên đường đi H không nói với S về việc mua ma túy với Q và mang ma túy sang huyện Đ, tỉnh Thái Bình bán. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, H điều khiển xe ô tô đến khu vực ven đường Q (đối diện quán K), địa phận thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình xuống xe tìm gặp người đàn ông hẹn mua ma tuý để bán còn S vẫn trên xe ô tô,

thì bị tổ công tác Công an huyện Đ cùng Công an xã Đ đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường Q, thuộc địa phận thôn L, xã Đ phát hiện H có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy yêu cầu H đứng lại kiểm tra. Sau khi được nghe giải thích quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, trước sự chứng kiến của anh Tô Văn S, ông Vũ Văn H3 và ông Lê Hồng P, Nguyễn Văn H đã tự nguyện lấy trong túi quần bên phải đang mặc 01 túi nilon trong suốt có mép cài nhựa viền màu đỏ, bên trong có chứa 05 viên nén màu xám không rõ hình (H khai đó là ma túy tổng hợp dạng thuốc lắc mang bán kiếm lời) giao cho tổ công tác tiến hành lập biên bản quản lý, niêm phong vật chứng. Đối với Nguyễn Minh Q sau khi H bị bắt, ngày 26/3/2024, Q đã đến Công an huyện Đ đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội đã thực hiện.

Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Q và H, không thu giữ tài sản, đồ vật gì liên quan.

Tại bản Kết luận giám định số 420/KL-KTHS ngày 31/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại MDMA, có khối lượng 2,0283 gam (Hai phẩy không nghìn hai trăm tám mươi ba gam).

MDMA STT: 11 Danh mục IB phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chình phủ.

- Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Minh Q thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố. Các bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi và quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng.

Về nguồn gốc chiếc xe ôtô nhãn hiệu Hyundai Accent, biển kiểm soát 15K- 171.27 bị Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ; bị cáo H khai: Bố đẻ bị cáo là ông Nguyễn Văn H1 bỏ toàn bộ số tiền mua lại chiếc xe ô tô về đăng ký mang tên bị cáo, tạo công ăn việc làm cho bị cáo hành nghề Taxi chở khách trang trải cuộc sống gia đình. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe ô tô cho bị cáo.

- Tại Cơ quan điều tra:

+ Người làm chứng là anh Tô Văn S khai: Khoảng 21 giờ ngày 25/3/2024, S đang chơi ở quán điện tử trong xã thì H gọi điện thoại rủ đi chơi cùng. Sau đó H điều khiển xe ôtô về đón S vào thành phố Hải Phòng đến gần khu vực Trung tâm thương mại A1, H gặp ai thì S không rõ vì S đi vệ sinh. Sau đó H rủ S sang Thái Bình chơi, H chở S đến trục đường Quốc lộ đối diện 01 quán Karaoke thì dừng lại xuống xe, vừa lúc này thì lực lượng Công an huyện Đ yêu cầu kiểm tra H. H tự nguyện giao nộp cho lực lượng Công an 01 túi ni lon trong suốt có mép cài nhựa viền đỏ bên trong có 05 viên nén màu xám, H khai là ma túy tổng hợp mang đi bán. S mới đi bộ đội về chưa có việc làm nên thi thoảng H đi chạy xe taxi ban đêm H rủ S đi cùng cho an toàn. Đi trên đường H và S chỉ nói chuyện yêu đương, điện tử. H không nói gì đến việc đi mua ma túy để mang sang Thái Bình. S không biết H bán ma túy.

+ Người chứng kiến là ông Vũ Văn H3 và ông Lê Hồng P khai: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 25/3/2024, tại đường Q địa phận thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; ông H3 và ông S đã chứng kiến việc Công an huyện Đ và Công an xã Đ thu giữ của Nguyễn Văn H 01 túi nilon trong suốt có mép cài nhựa viền màu đỏ, bên trong có 05 viên nén màu xám. H khai nhận 05 viên nén màu xám là ma túy tổng hợp, số ma túy trên H mua của Nguyễn Minh Q ở thôn A, xã A, huyện V, thành phố Hải Phòng với giá 1.500.000 đồng mang sang địa phận xã Đ, huyện Đ để bán cho khách kiếm lời, chưa kịp bán thì bị Công an huyện Đ bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Bản cáo trạng số 66/CT-VKSĐH ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Minh Q có lý lịch nêu trên, về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo H và Q theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo H từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù.
  • Phạt bổ sung bị cáo H từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
  • - Áp dụng điểm khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Q từ 02 năm 09 tháng tù đến 03 năm tù.
  • Phạt bổ sung bị cáo Q từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • + Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của Nguyễn Văn H được hoàn lại sau giám định, niêm phong trong phong bì số 420/KL-KTHS ngày 31/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T.
  • + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 02 điện thoại di động (01 điện thoại Iphone 11 Promax của bị cáo H; 01 điện thoại Iphone 12 Promax của bị cáo Q)
  • + Trả lại chiếc xe ôtô nhãn hiệu HuynDai Accent, biển kiểm soát 15K- 171.27 cho Nguyễn Văn H.
  • - Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Các bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của bản thân, các bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Minh Q tại phiên tòa là lời buộc tội giữa các bị cáo với nhau, phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với chính lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ lập hồi 00 giờ 45 phút ngày 26/3/2024; Biên bản tiếp nhận Nguyễn Minh Q ra đầu thú; Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Bản ảnh vật chứng; Biên bản kiểm tra điện thoại của Nguyễn Minh Q hồi 06 giờ 20 phút ngày 26/3/2024 và điện thoại của Nguyễn Văn H hồi 03 giờ 30 phút ngày 26/3/2024 có cuộc gọi tài khoản Zalo giữa H và Q vào thời gian đêm ngày 25/3/2024; Bản kết luận giám định số 420/KL-KTHS ngày 31/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T; Lời khai của người làm chứng anh Tô Văn S; Lời khai của người chứng kiến là ông Vũ Văn H3 và ông Lê Hồng P; cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

- Khoảng hơn 21 giờ ngày 25/3/2024, tại chân cầu vượt khu vực Trung tâm thương mại A địa phận phường D, quận L, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Minh Q có hành vi bán 05 viên ma túy màu xám không rõ hình là MDMA có khối lượng 2,0283 gam cho Nguyễn Văn H với giá 300.000 đồng/1 viên.

- Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 25/3/2024, tại Quốc lộ A địa phận thôn L, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Văn H có hành vi đứng đợi tìm người khách đã hẹn mua ma túy của H để bán 05 viên ma túy màu xám không rõ hình là MDMA có khối lượng 2,0283 gam với giá đã thỏa thuận là 350.000 đồng/1 viên nhưng chưa kịp bán thì bị Công an huyện Đ và Công an xã Đ bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn H và Nguyễn Minh Q đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố.

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo thấy: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, là nguyên nhân làm phát sinh và gia tăng các loại tội phạm, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Hậu quả mà các bị cáo gây ra phải chịu sự trừng trị của pháp luật, đây là bài học cho các bị cáo và những người mắc nghiện ma túy, phạm các tội về ma túy.

[4] Khi quyết định hình phạt, xét thấy:

  • - Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
  • - Trong quá trình tố tụng các bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Q sau khi phạm tội ra đầu thú và có ông nội là Liệt sỹ chống Mỹ nên được hưởng thêm 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • [5] Đây không phải là vụ án đồng phạm. Hành vi của H và Q là độc lập với nhau. H là người chủ động điện thoại nhờ Q tìm mua ma túy tổng hợp với giá 300.000 đồng/1 viên, mục đích mang sang Thái Bình bán giá 350.000 đồng/1 viên kiếm lời. Q nhận lời tìm mua ma túy tổng hợp với giá 250.000 đồng/1 viên và bán lại cho H để kiếm lời với giá 300.000 đồng/1 viên. Hội đồng xét xử đánh giá, H là nguyên nhân dẫn tới việc cả hai bị cáo phạm tội nên mức hình phạt của H phải cao hơn mức hình phạt của Q.
  • [6] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử quyết định mức án tương xứng để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện và để giáo dục, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo mua ma túy mục đích để bán kiếm lời nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về vật chứng vụ án:

  • - Số ma túy thu giữ của bị cáo H còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 02 điện thoại di động (01 điện thoại Iphone 11 Promax thu của bị cáo H; 01 điện thoại Iphone 12 Promax thu của bị cáo Q) các bị cáo dùng liên lạc để mua bán trái phép chất ma túy nên cần tịch thu để sung ngân sách Nhà nước.
  • - Nguồn gốc chiếc xe ôtô nhãn hiệu Hyundai Accent, biển kiểm soát 15K- 171.27: Do bố đẻ bị cáo H là ông Nguyễn Văn H1 bỏ tiền mua, đăng ký tên bị cáo H, tạo công ăn việc làm cho bị cáo H. Chiếc xe ô tô đó không phải là phương tiện trực tiếp để H vận chuyển ma túy và cũng không là nơi H cất giữ ma túy để bán; vì vậy, cần tuyên trả lại xe ô tô cho bị cáo H.
  • [8] Về các vấn đề khác có liên quan:
  • - Quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được người bán ma túy cho Q và người hỏi, hứa hẹn mua ma túy của H, do đó không có căn cứ để điều tra, xử lý.
  • - Đối với anh Tô Văn S là người đi cùng xe ô tô với H sang Thái Bình vào đêm ngày 25/3/2024, anh S không biết H mang ma túy theo người và không biết H bán ma túy nên không xem xét trách nhiệm hình sự với anh S.
  • [9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  • [10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Minh Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  • - Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt Nguyễn Văn H 03 năm 06 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 26/3/2024.
  • Phạt bổ sung Nguyễn Văn H 15.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
  • - Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt Nguyễn Minh Q 02 năm 09 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 26/3/2024.
  • Phạt bổ sung Nguyễn Minh Q 10.000.000 đồng để sung ngân sách Nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của Nguyễn Văn H được hoàn lại sau giám định, niêm phong trong phong bì số 420/KL-KTHS ngày 31/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T.
  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 Promax của Nguyễn Văn H và 01 điện thoại Iphone 12 Promax của Nguyễn Minh Q.
  • - Tuyên trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 xe ôtô nhãn hiệu HuynDai Accent, biển kiểm soát 15K-171.27

(Các đồ vật và tài sản trên đã được bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hưng ngày 14/6/2024)

3. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV;

Các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Minh Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND H.Đông Hưng;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS H.Đông Hưng;
  • - Công an H.Đông Hưng;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, cơ quan.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đã ký

Lê Kiên Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HS- ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 71/2024/HS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Minh Quân - Mua bán trái phép chất ma túy- khoản 1, khoản 5 điều 251
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger