|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 71/2024/HS-ST
Ngày: 17/5/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Huấn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thạch Thị Lan Nhung;
Ông Hà Thanh Tuấn
Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Thị Thu Duy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 77/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST–HS ngày 06 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Quốc D, sinh năm 1992, tại: Tỉnh Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc D1, con bà Nguyễn Thị C (Nguyễn Thị T); vợ, con: Chưa có; tiền án: Ngày 17/11/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm 04 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29/6/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 18 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 02/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L “có mặt”.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Dương Văn Ý, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào trưa ngày 02/01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Quốc D đã liên lạc với người đàn ông tên “Nam” (không rõ nhân thân lai lịch) ở thị trấn L, huyện Đ để đặt mua ma tuý với giá 2.000.000 đồng thì người này đồng ý và hẹn giao ma tuý tại thị trấn L, huyện Đ. Sau đó, D gọi điện hỏi mượn xe của Dương Văn Ý, sinh năm 1994 để đi mua ma tuý thì Ý đồng ý. Khi hỏi mượn xe thì D nói với Ý mục đích mượn xe để đi giải quyết công việc riêng. Sau đó, D một mình
điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, màu đen, BKS: 49D1-62347 của Ý đi từ huyện L đến thị trấn L, huyện Đ. Khi ra tới nơi, D gọi điện thoại cho “Nam” thì được “Nam” hẹn giao ma tuý ở ven đường Quốc lộ 20 đối diện đường vào sân bay L thuộc huyện Đ để lấy ma tuý. D điều khiển xe đi đến điểm hẹn và đứng đợi được một lúc thì có một người đàn ông dáng người cao, đeo khẩu trang đen, mặc áo thun màu đen, bên tay phải có hình xăm đi bộ đến. Sau khi xác nhận đây là “Nam”, D đưa số tiền 2.000.000 đồng cho người này thì được người này đưa cho 01 gói nylon chứa ma tuý. Nhận được gói ma tuý, D cho gói nylon có chứa ma tuý trên vào vỏ bao thuốc là hiệu “SEVEN DIAMOND” của mình mang sẵn theo trong người rồi kẹp gói thuốc vào gác baga của xe. Sau đó, D điều khiển xe đi về khu vực xã T, huyện L để tìm nơi sử dụng ma túy. Khi đi đến đoạn đường bê tông thuộc thôn T, xã T, huyện L thì bị lực lượng Công an ra hiệu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, lực lượng Công an đã phát hiện gói nylon có chứa ma tuý mà D cất giấu trong gói thuốc lá để ở gác baga xe nên đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong toàn bộ tang vật và đưa D về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Công an, D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Vật chứng và tài sản thu giữ gồm: 01 (một) gói nylon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy được niêm phong. 01 diện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng được niêm phong. 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, màu đen, BKS: 49D1-623.47.
Tại bản kết luận giám định số 12/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh L xác định: Mẫu tinh thể đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có khối lượng là 4,0459g (bốn phẩy không bốn năm chín gam), loại Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Về xử lý vật chứng: Ngày 20/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện L ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, màu đen, BKS: 49D1-623.47 cho anh Dương Văn Ý.
Quá trình điều tra, bị can Nguyễn Quốc D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị can Nguyễn Quốc D phạm tội khi chưa được xóa án tích, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Đối với người đàn ông tên N là người bán ma túy cho bị can D do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an huyện L tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số 87/CT-VKS ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc D ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Q khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không khiếu nại hay thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Quốc D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc D từ 42 tháng đến 54 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 02 phong bì được niêm phong số 1205/2024 có chữ ký ghi họ tên “Võ Như T1”, “Hoàng Thị Thanh H”, “Đặng Quốc T2” và dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh L” phong bì đựng bao gói vật chứng gửi giám định và phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy. 01 diện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đen, đã qua sử dụng, bị nứt màn hình được niêm phong vào phong bì Bưu điện đánh số 02 có chữ ký của Nguyễn Quốc D, Nguyễn Đình D2, Bùi Văn B và dấu tròn màu đỏ của Công an xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng thu giữ của bị cáo, bị cáo đã dùng để liên lạc vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tại phiên tòa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Dương Văn Ý đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của anh Ý không ảnh hưởng đến việc xét xử; đồng thời, không có ai đề nghị hoãn phiên tòa. Do đó, căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung là phù hợp.
[1.2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội, tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, để có ma túy sử dụng vào 02/01/2024, bị cáo đã liên lạc với người đàn ông tên “Nam” (không rõ nhân thân lai lịch) ở thị trấn L, huyện Đ để đặt mua ma tuý với giá 2.000.000 đồng thì người này đồng ý và hẹn giao ma tuý tại thị trấn L, huyện Đ. Sau đó, bị cáo điều khiển xe mô tô từ huyện L ra thị trấn L, huyện Đ mua ma túy rồi điều khiển xe đi về khu vực xã T, huyện L để tìm nơi sử dụng. Khi đi đến đoạn đường bê tông thuộc thôn T, xã T, huyện L thì bị lực lượng Công an ra hiệu dừng xe để kiểm tra bắt giữ.
[2.1] Tại bản kết luận giám định số 12/KL-KTHS ngày 09/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh L xác định: Mẫu tinh thể đựng trọng một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có khối lượng là 4,0459g (bốn phẩy không bốn năm chín gam), loại Methamphetamine.
[2.2] Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ khối lượng ma túy trên là của bị cáo tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng.
[2.3] Xét lời khai phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và nội dung bản Cáo trạng truy tố cùng với các tài liệu, chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Quốc D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà truy tố là có căn cứ.
[2.4] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; đồng thời, tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bởi vì, ma túy là loại độc dược có nhiều tác hại đối với sức khỏe con người là nguyên nhân gây ra những căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và phát sinh theo nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, Nhà nước ta bằng mọi biện pháp tuyên truyền, giáo dục toàn dân phòng chống ma túy và nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy dưới mọi hình thức nhưng chỉ vì mục đích thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo không nghĩ đến tác hại của loại độc dược này mà bị cáo đã đi mua về tàng trữ để sử dụng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do bị cáo đã gây ra.
[2.5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét thấy, vào ngày 17/11/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm 04 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo chấp hành án xong vào ngày 18/01/2023. Đến ngày 02/01/2024 bị cáo lại tiếp tục phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy khi chưa được xóa án tích là thuộc trường hợp tái phạm. Vì vậy, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[2.6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có thời gian phục vụ trong quân ngũ. Do vậy, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[2.7] Từ những phân tích nhận định như trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm và tàng trữ ma túy có khối lượng 4,0459g là tương đối lớn. Vì vậy, cần chấp nhận quan điểm luật tội của đại diện Viện kiểm sát phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo sống biết tuân thủ pháp luật; đồng thời, nhằm răn đe giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung.
[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và người nghiện ma túy nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[4] Đối với người đàn ông tên N là người bán ma túy cho bị cáo do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý sau là phù hợp. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án do Cơ quan điều tra thu giữ bàn giao sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà gồm: 02 phong bì được niêm phong số 1205/2024 có chữ ký ghi họ tên “Võ Như T1”, “Hoàng Thị Thanh H”, “Đặng Quốc T2” và dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh L” phong bì đựng bao gói vật chứng gửi giám định và phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định là chất ma túy pháp luật cấm sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 diện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đen, đã qua sử dụng, bị nứt màn hình được niêm phong vào phong bì Bưu điện đánh số 02 có chữ ký của Nguyễn Quốc D, Nguyễn Đình D2, Bùi Văn B và dấu tròn màu đỏ của Công an xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng thu giữ của bị cáo, bị cáo đã dùng để liên lạc vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc D 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2024.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên:
Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì được niêm phong số 1205/2024 có chữ ký ghi họ tên “Võ Như T1”, “Hoàng Thị Thanh H”, “Đặng Quốc T2” và dấu tròn màu đỏ của “Phòng K - Công an tỉnh L” phong bì đựng bao gói vật chứng gửi giám định và phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định.
Sung vào ngân sách Nhà nước 01 diện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đen, đã qua sử dụng, bị nứt màn hình được niêm phong vào phong bì Bưu điện đánh số 02 có chữ ký của Nguyễn Quốc D, Nguyễn Đình D2, Bùi Văn B và dấu tròn màu đỏ của Công an xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
(Tất cả có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng ngày 02/5/2024).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Quốc D phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/5/2024) bị cáo có quyền kháng cáo; riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm (người có liên quan chỉ được quyền kháng cáo phần có liên quan).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Huấn |
Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 71/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quốc Dũng
