Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q.HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 71/2024/HNGĐ-ST

Ngày : 16/9/2024

V/v "Ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Loan

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Huỳnh Thanh Trà

- Ông Phạm Công Lương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Minh Tâm - Cán bộ TAND quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy D - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 120/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Bà Lê Thị Bích H, sinh năm 1982. Địa chỉ: G Yên Bái, phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng, có mặt.
  • * Bị đơn: Ông Nguyễn Nam K, sinh năm 1980. Địa chỉ: P chung cư B, tổ G phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt lần thứ 2 không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nộp tại Tòa án ngày 08/4/2024 và tại phiên tòa hôm nay bà Lê Thị Bích H trình bày:

- Về hôn nhân: Ông Nguyễn Nam K kết hôn với bà Lê Thị Bích H vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại F A, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng là nhà ba mẹ ông K.

Trong quá trình chung sống đến năm 2012 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình và quan điểm sống không hợp, vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi nhau. Từ năm 2014 đến nay vợ chồng đã sống ly thân. Mặc dù đã cố gắng hòa giải nhưng vẫn không có kết quả. Nay, bà H xác định không còn tình cảm với ông K, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài nên đề nghị Tòa án cho bà được ly hôn với ông K.

- Về con chung: Bà Lê Thị Bích H xác định bà và ông K có 02 con chung tên là Nguyễn Lê Bảo T, sinh ngày 30/12/2008 và Nguyễn Mạnh Q, sinh ngày 01/4/2012.

Khi ly hôn, bà H có nguyện vọng đượctrực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản: Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn là ông Nguyễn Nam K nhưng ông K vẫn không đến Tòa án và không có ý kiến bằng văn bản nộp tại Tòa án về nội dung khởi kiện của Nguyên đơn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên xử:

  • - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của của bà Lê Thị Bích H đối với ông Nguyễn Nam K.
  • - Về con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Lê Bảo T, sinh ngày 30/12/2008 và Nguyễn Mạnh Q, sinh ngày 01/4/2012 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định bà và ông K không có nên Viện kiểm sát không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

{1} Về thủ tục tố tụng: Do bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

{2} Về nội dung tranh chấp:

2.1 Về hôn nhân :Lê Thị Bích H và ông Nguyễn Nam K kết hôn với nhau vào năm 2007 tại UBND phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Tại phiên tòa, bà H xin ly hôn với ông K vì cho rằng mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn để sống chung, ông K không có trách nhiệm với vợ con, đã bỏ nhà đi đầu năm 2024 đến nay, tình cảm của bà dành cho ông K không còn, mục đích hôn nhân không đạt được.

Xét yêu cầu của bà H thì thấy: Quá trình chung sống bà H và ông K đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2012, từ năm 2014 đến nay vợ chồng sống ly thân. Ông K không đến Tòa án để giải quyết việc xin ly hôn của bà H đối với ông, chứng tỏ ông K không tôn trọng pháp luật và cũng không quan tâm đến tình trạng hôn nhân của vợ chồng. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông K trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H là phù hợp với Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân gia đình.

2.2 Về nuôi con chung:H xác định bà và ông K có 02 con chung là Nguyễn Lê Bảo T, sinh ngày 30/12/2008 và Nguyễn Mạnh Q, sinh ngày 01/4/2012. Ly hôn, bà H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét yêu cầu xin được nuôi con của bà H thì thấy: Bà H là người trực tiếp nuôi con phát triển tốt về thể chất và tinh thần, con chung của bà H và ông K có nguyện vọng ở với bà H, do đó cần tiếp tục giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81, 82 và 83 luật Hôn nhân và gia đình. Bà H không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Quyền và nghĩa vụ đối với con chung các bên thực hiện theo quy định của pháp luật.

2.3 Về tài sản chung và nợ chung:H xác định bà và ông K không có tài sản chung và nợ chung nên HĐXX không đề cập đến.

{3} Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Bích H về việc”Ly hôn” đối với ông Nguyễn Nam K.

Xử:

  1. Về hôn nhân: Cho bà Lê Thị Bích H ly hôn ông Nguyễn Nam K.
  2. Về nuôi con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Lê Bảo T, sinh ngày 30/12/2008 và Nguyễn Mạnh Q, sinh ngày 01/4/2012 cho bà Lê Thị Bích H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Nam K không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Quyền và nghĩa vụ đối với con chung, các bên thực hiện theo quy định của pháp luật.

  3. Án phí HNGĐ-ST 300.000 đồng bà Lê Thị Bích H phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà H đã nộp theo biên lai thu số 0000380 ngày 05 tháng 6 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Bà H đã nộp đủ tiền án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Q Hải Châu;
  • - Cơ quan THADS Q. Hải Châu;
  • - UBND phường Thạch Thang
  • (GCNKH số 150, ngày 16/11/2017);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Hồng Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về ly hôn

  • Số bản án: 71/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà H xin ly hôn ông K
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger