| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2024/KDTM-ST | |
| Ngày: 16-8-2024. | |
| V/v tranh chấp về hợp đồng cho thuê tài chính. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Huỳnh Công Nhân;
- Bà Hồ Thị Lệ Thu.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7 – Tp ..
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Tp . HCM tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 09/2024/TLST-KDTM ngày 23 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 272/2024/QÐST-KDTM ngày 25 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 205/2024/QÐST-KDTM ngày 17 tháng 7 năm 2027 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty TNHH Một thành viên C (SBL).
Địa chỉ trụ sở: Tầng A, tầng B Tòa nhà B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện hợp pháp của Công ty:
Ông Trần Trung K, sinh năm 1996 – Có mặt.
Là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 30/11/2023 của Công ty TNHH Một thành viên C
Bị đơn: Công ty TNHH V.
Địa chỉ trụ sở: C H, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật của Công ty:
Ông Trần Quang Đ, sinh năm 1989 – Vắng mặt.
Địa chỉ thường trú: A N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: C H, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Ngày 04/10/2022, Công ty TNHH Một thành viên C thuê tài chính Ngân hàng C sau đây gọi tắt là Công ty S ký Hợp đồng cho thuê tài chính số SBL010202210003, phụ lục 1: Tài sản thuê, phụ lục 2: Điều kiện cho thuê tài chính để cho Công ty V thuê tài sản là 02 xe ô tô tải có mui mang biển kiểm soát 60C-499.48 và 60C-487.91, theo đó: Dư nợ cam kết là 563.796.240 đồng; tiền ký cược là 57.000.000 đồng; giá trị mua lại: 1.500.000 đồng/xe; thời hạn cho thuê: 36 tháng; thời hạn thanh toán: 36 tháng, trong đó thời gian ân hạn gốc là 0 tháng; lãi suất cho thuê: 8%/năm cố định trong suốt thời hạn thuê; ngày thanh toán: ngày 5; kỳ hạn trả nợ: nợ gốc và nợ lãi thanh toán hàng tháng; hóa đơn dịch vụ cho thuê tài chính được Công ty S xuất: 01 tháng một lần; phương thức khấu trừ VAT: khấu trừ dần; Phí phạt thanh lý hợp đồng trước hạn: 7% dư nợ giải ngân, nếu Hợp đồng chấm dứt trước thời hạn trong khoảng thời gian kể từ ngày Hợp đồng được ký kết cho đến khi kết thúc thời hạn đầu tư; 7% dư nợ còn lại tại thời điểm chấm dứt Hợp đồng trước hạn, nếu Hợp đồng chấm dứt trước 13 tháng được tính kể từ kỳ thanh toán đầu tiên được quy định tại Lịch thanh toán tiền thuê; 3% dư nợ còn lại tại thời điểm chấm dứt Hợp đồng trước hạn, nếu Hợp đồng chấm dứt bằng hoặc sau thời hạn 13 tháng được tính kể từ kỳ thanh toán đầu tiên được quy định tại Lịch thanh toán tiền thuê.
- Ngày 26/10/2022, Công ty S ký Hợp đồng cho thuê tài chính số SBL010202210034, phụ lục 1: Tài sản thuê, phụ lục 2: Điều kiện cho thuê tài chính để cho Công ty V thuê tài sản là 02 xe ô tô tải có mui mang biển kiểm soát 60C-493.86 và 60C-492.62 theo đó: Dư nợ cam kết là 531.176.480 đồng; tiền ký cược là 53.000.000 đồng trong đó: Số tiền 26.500.000 đồng Công ty V nộp trước khi ký HĐCTTC; số tiền còn lại 26.500.000 đồng: Công ty V sẽ nộp chậm nhất ngày 31/10/2022; giá trị mua lại: 1.500.000 đồng/xe; thời hạn cho thuê: 36 tháng; thời hạn thanh toán: 36 tháng, trong đó thời gian ân hạn gốc là 0 tháng; lãi suất cho thuê: 8%/năm cố định trong suốt thời hạn thuê; ngày thanh toán: ngày 15; kỳ hạn trả nợ: nợ gốc và nợ lãi thanh toán hàng tháng; hóa đơn dịch vụ cho thuê tài chính được Công ty S xuất: 01 tháng một lần; phương thức khấu trừ VAT: khấu trừ dần; Phí phạt thanh lý hợp đồng trước hạn: 7% dư nợ giải ngân, nếu Hợp đồng chấm dứt trước thời hạn trong khoảng thời gian kể từ ngày Hợp đồng được ký kết cho đến khi kết thúc thời hạn đầu tư; 7% dư nợ còn lại tại thời điểm chấm dứt Hợp đồng trước hạn, nếu Hợp đồng chấm dứt trước 13 tháng được tính kể từ kỳ thanh toán đầu tiên được quy định tại Lịch thanh toán tiền thuê; 3% dư nợ còn lại tại thời điểm chấm dứt Hợp đồng trước hạn, nếu Hợp đồng chấm dứt bằng hoặc sau thời hạn 13 tháng được tính kể từ kỳ thanh toán đầu tiên được quy định tại Lịch thanh toán tiền thuê.
- Ngày 30/10/2022, Công ty S ký Hợp đồng cho thuê tài chính số SBL010202212065, phụ lục 1: Tài sản thuê, phụ lục 2: Điều kiện cho thuê tài chính để cho Công ty V thuê tài sản là 03 xe ô tô tải có mui mang biển kiểm soát 60C-490.09, 60C-492.95 và 60C-496.25 theo đó: Dư nợ cam kết là 716.518.980 đồng; tiền ký cược là 35.830.000 đồng; giá trị mua lại: 1.500.000 đồng/xe; thời hạn cho thuê: 36 tháng; thời hạn thanh toán: 36 tháng, trong đó thời gian ân hạn gốc là 0 tháng; lãi suất cho thuê: 9%/năm cố định trong suốt thời hạn thuê; ngày thanh toán: ngày; kỳ hạn trả nợ: nợ gốc và nợ lãi thanh toán hàng tháng; hóa đơn dịch vụ cho thuê tài chính được Công ty S xuất: 01 tháng một lần; phương thức khấu trừ VAT: khấu trừ dần; Phí phạt thanh lý hợp đồng trước hạn: 7% dư nợ giải ngân, nếu Hợp đồng chấm dứt trước thời hạn trong khoảng thời gian kể từ ngày Hợp đồng được ký kết cho đến khi kết thúc thời hạn đầu tư; 7% dư nợ còn lại tại thời điểm chấm dứt Hợp đồng trước hạn, nếu Hợp đồng chấm dứt trước 13 tháng được tính kể từ kỳ thanh toán đầu tiên được quy định tại Lịch thanh toán tiền thuê; 3% dư nợ còn lại tại thời điểm chấm dứt Hợp đồng trước hạn, nếu Hợp đồng chấm dứt bằng hoặc sau thời hạn 13 tháng được tính kể từ kỳ thanh toán đầu tiên được quy định tại Lịch thanh toán tiền thuê.
Công ty S đã tiến hành bàn giao các tài sản thuê theo đúng thỏa thuận và đã thực hiện đăng ký biện pháp bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với các tài sản thuê trên.
Quá trình thực hiện các Hợp đồng cho thuê tài chính trên, Công ty V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Công ty S đã trừ dần số tiền ký cược vào dư nợ gốc. Sau đó đến ngày 20/7/2023, Công ty S đã có Thông báo số 165/2023/SBL về việc tuyên bố chấm dứt Hợp đồng cho thuê trước thời hạn gửi Công ty V để yêu cầu thanh toán nợ tồn đọng cho Công ty S chậm nhất vào cuối ngày 28/7/2023 với nợ gốc 1.659.412.200 đồng và nợ lãi (tạm tính) 47.922.400 đồng, tổng cộng: 1.707.334.600 đồng. Tuy nhiên Công ty V vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán và cũng không bàn giao các tài sản thuê cho Công ty S, vẫn đang quản lý sử dụng theo các Biên bản bàn giao tài sản
Tại Đơn khởi kiện ngày 30/11/2023, Công ty S yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 7 giải quyết các vấn đề sau: Chấm dứt các Hợp đồng cho thuê tài chính số SBL010202210003, SBL010202210034, SBL010202212065; Yêu cầu Công ty V phải bàn giao toàn bộ tài sản thuê: 01 xe ô tô tải có mui có bàn nâng nhãn hiệu KIA, model: Thaco Frontier K200/HUNGNAM-MBBN, sản xuất năm 2019, xuất xứ Việt Nam, đã qua sử dụng có số khung RNHA05KHAKC000349, số máy K006123D4CB, biển số 60C-499.48; 01 xe ô tô tải có mui có bàn nâng nhãn hiệu KIA, model: Thaco Frontier K200-LMB1, sản xuất năm 2019, xuất xứ Việt Nam, đã qua sử dụng, số khung RNHA05KHAKC000345, số máy K006143D4CB, biển số 60C-487.91; 01 xe ô tô tải có mui nhãn hiệu KIA, model: Thaco Frontier K200-LMB1, sản xuất năm 2019, xuất xứ Việt Nam, đã qua sử dụng, số khung RNHA05KHAKC000348, số máy K006124D4CB, biển số 60C-492.62; 01 xe ô tô tải có mui nhãn hiệu KIA, model: Thaco Frontier K200-LMB1, sản xuất năm 2019, xuất xứ Việt Nam, đã qua sử dụng, số khung RNHA05KHAKC000347, số máy K006142D4CB, biển số 60C-493.86; 01 xe ô tô tải thùng mui bạt, nhãn hiệu Suzuki, model SK410K4, sản xuất năm 2019, xuất xứ Việt Nam, số khung RLSEDA21TJV204104, số máy F10A-ID736634, biển số 60C-496.25; 01 xe ô tô tải có mui nhãn hiệu KIA, model: Thaco Frontier K200-MB1-1, sản xuất năm 2019, xuất xứ Việt Nam, đã qua sử dụng, số khung RNHA05KHAKC000346, số máy K006141D4CB, biển số 60C-492.95; 01 xe ô tô tải có mui nhãn hiệu KIA, model: Thaco Frontier K200-MB1-1, sản xuất năm 2019, xuất xứ Việt Nam, đã qua sử dụng, số khung RNHA05KHAKC000344, số máy K006121D4CB, biển số 60C-490.09 để Công ty S tiến hành thanh lý tài sản thuê để thanh toán các khoản nợ tiền thuê mà Công ty V đang nợ S1 tạm tính đến ngày 17/11/2023 là 1.889.442.961 đồng
Trường hợp sau khi Công ty V bàn giao tài sản thuê cho Công ty S bán thanh lý nhưng không đủ để thanh toán số nợ nêu trên, Công ty V phải tiếp tục thanh toán đủ các khoản nợ phát sinh cho đến khi thi hành xong bản án.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của Công ty S yêu cầu Tòa án buộc Công ty V:
- Về Hợp đồng cho thuê tài chính: Chấm dứt 03 Hợp đồng cho thuê tài chính số SBL010202210003, SBL010202210034, SBL010202212065, yêu cầu Công ty V thanh toán cho Công ty S số tiền còn nợ lại theo các Hợp đồng cho thuê tài chính tạm tính đến ngày 16/8/2024, cụ thể như sau:
- Hợp đồng cho thuê tài chính số SBL010202210003: Số tiền vốn gốc 485.491.240 đồng; tiền lãi trong hạn 41.516.700 đồng; tiền lãi quá hạn: 31.040.500 đồng; tiền ký cược còn lại là 10.949.300 đồng được cấn trừ vào số tiền nợ gốc, do đó số nợ gốc còn lại là 474.841.940 đồng. Tổng số tiền là 547.554.140 đồng.
- Hợp đồng cho thuê tài chính số SBL010202210034: Số tiền vốn gốc 457.401.980 đồng; tiền lãi trong hạn 38.662.000 đồng; tiền lãi quá hạn: 30.876.300 đồng; tiền ký cược còn lại là 0 đồng. Tổng số tiền là 526.940.280 đồng.
- Hợp đồng cho thuê tài chính số BL010202212065: Số tiền vốn gốc 716.518.980 đồng; tiền lãi trong hạn 71.595.200 đồng; tiền lãi quá hạn: 41.582.400 đồng; tiền ký cược còn lại là 0 đồng. Tổng số tiền là 829.696.580 đồng.
Tổng số tiền còn nợ lại của cả 03 Hợp đồng cho thuê tài chính trên tạm tính đến ngày 16/8/2024 là 1.903.736.000 đồng, bao gồm: Nợ gốc: 1.648.462.900 đồng; tiền lãi trong hạn 151.773.900 đồng; tiền lãi quá hạn: 103.499.200 đồng.
Nếu Công ty V thanh toán số nợ trên thì Công ty S sẽ không có yêu cầu về tài sản thuê và cho Công ty V mua lại giá trị tài sản thuê với các điều kiện được nêu trong các Hợp đồng cho thuê tài chính trên.
Ngoài ra, Công ty V vẫn phải tiếp tục chịu tiền lãi theo các Hợp đồng cho thuê tài chính đã ký nêu trên cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Công ty S theo mức lãi suất đã thỏa thuận.
- Về tài sản thuê: Trong trường hợp Công ty V không thanh toán các khoản nợ thuê trên, Công ty S yêu cầu Công ty V phải giao trả toàn bộ tài sản thuê để Công ty S tiến hành thanh lý tài sản thuê để thanh toán cho các khoản nợ tiền thuê mà Công ty V đang còn nợ Công ty S.
- Nếu Công ty V giao trả các tài sản thuê trên cho Công ty S để thanh lý thu hồi nợ nhưng không đủ để thanh toán các khoản nợ của Công ty V thì Công ty S yêu cầu Công ty V tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty S cho đến khi hết nợ.
Bị đơn là Công ty TNHH V đã được Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo thụ lý; Giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Giấy triệu tập tham gia về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 272/2024/QÐST-KDTM ngày 25/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 205/2024/QÐST-KDTM ngày 17/7/2024 nhưng Công ty TNHH V vẫn vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Công ty TNHH V theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 phát biểu ý kiến:
I. Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thẩm tra viên, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- * Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
- - Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, về thẩm quyền thụ lý đúng quy định tại các Điều từ 26 đến Điều 40 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng theo quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các Điều từ 93 đến 97 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, thực hiện đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về thời hạn chuẩn bị xét xử.
- * Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
- - Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- - Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
II. Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
- - Nguyên đơn là Công ty S khởi kiện bị đơn là Công ty V về việc yêu cầu chấm dứt hợp đồng và thanh toán tiền còn nợ lại theo các Hợp đồng cho thuê tài chính số SBL010202210003 ngày 04/10/2022; số SBL010202210034 ngày 26/10/2022 và số SBL010202212065 ngày 30/12/2022 thì đây là “Tranh chấp hợp đồng cho thuê tài chính” quy định tại Điều 472 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- - Căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 0316344751 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp đăng ký lần đầu ngày 23/6/2020, đăng ký thay đổi lần thứ 2 ngày 27/12/2022 thì Công ty V có đăng ký địa chỉ trụ sở tại số C H, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Tranh chấp về kinh doanh thương mại, bị đơn có trụ sở tại Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về hình thức:
- Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
- [3.1 Về yêu cầu của nguyên đơn Công ty S yêu cầu chấm dứt 03 Hợp đồng cho thuê tài chính số SBL010202210003, SBL010202210034, SBL010202212065 buộc Công ty V phải thanh toán số nợ 1.903.736.000 đồng.
- Căn cứ các Hợp đồng cho thuê tài chính số SBL010202210003 ngày 04/10/2022, phụ lục 1: Tài sản thuê, phụ lục 2: Điều kiện cho thuê tài chính; số SBL010202210034 ngày 26/10/2022 phụ lục 1: Tài sản thuê, phụ lục 2: Điều kiện cho thuê tài chính và số SBL010202212065 ngày 30/12/2022 phụ lục 1: Tài sản thuê, phụ lục 2: Điều kiện cho thuê tài chính; Các biên bản bàn giao và nghiệm thu tài sản; Các lịch thanh toán tiền thuê; Các Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 107062, 107060, 107507, 107059, 107058, 134300, 135854 do Phòng C1 Công an tỉnh Đ cấp cho Công ty S đủ cơ sở để kết luận:
- Công ty S có cho Công ty V thuê các tài sản: 01 xe ô tô tải có mui có bàn nâng nhãn hiệu KIA, model: Thaco Frontier K200/HUNGNAM-MBBN, sản xuất năm 2019, xuất xứ Việt Nam, đã qua sử dụng có số khung RNHA05KHAKC000349, số máy K006123D4CB, biển số 60C-499.48; 01 xe ô tô tải có mui có bàn nâng nhãn hiệu KIA, model: Thaco Frontier K200-LMB1, sản xuất năm 2019, xuất xứ Việt Nam, đã qua sử dụng, số khung RNHA05KHAKC000345, số máy K006143D4CB, biển số 60C-487.91; 01 xe ô tô tải có mui nhãn hiệu KIA, model: Thaco Frontier K200-LMB1, sản xuất năm 2019, xuất xứ Việt Nam, đã qua sử dụng, số khung RNHA05KHAKC000348, số máy K006124D4CB, biển số 60C-492.62; 01 xe ô tô tải có mui nhãn hiệu KIA, model: Thaco Frontier K200-LMB1, sản xuất năm 2019, xuất xứ Việt Nam, đã qua sử dụng, số khung RNHA05KHAKC000347, số máy K006142D4CB, biển số 60C-493.86; 01 xe ô tô tải thùng mui bạt, nhãn hiệu Suzuki, model SK410K4, sản xuất năm 2019, xuất xứ Việt Nam, số khung RLSEDA21TJV204104, số máy F10A-ID736634, biển số 60C-496.25; 01 xe ô tô tải có mui nhãn hiệu KIA, model: Thaco Frontier K200-MB1-1, sản xuất năm 2019, xuất xứ Việt Nam, đã qua sử dụng, số khung RNHA05KHAKC000346, số máy K006141D4CB, biển số 60C-492.95; 01 xe ô tô tải có mui nhãn hiệu KIA, model: Thaco Frontier K200-MB1-1, sản xuất năm 2019, xuất xứ Việt Nam, đã qua sử dụng, số khung RNHA05KHAKC000344, số máy K006121D4CB, biển số 60C-490.09 sau đây gọi tắt là Tài sản thuê.
- Xét các Hợp đồng cho thuê tài chính số số SBL010202210003 ngày 04/10/2022, phụ lục 1: Tài sản thuê, phụ lục 2: Điều kiện cho thuê tài chính; số SBL010202210034 ngày 26/10/2022 phụ lục 1: Tài sản thuê, phụ lục 2: Điều kiện cho thuê tài chính và số SBL010202212065 ngày 30/12/2022 phụ lục 1: Tài sản thuê, phụ lục 2: Điều kiện cho thuê tài chính, thể hiện sự tự nguyện thỏa thuận của các bên khi tham gia ký kết, hình thức và nội dung không trái với quy định nên có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 385, Điều 401 và Điều 472 Bộ luật Dân sự năm 2015
- Căn cứ vào các Hóa đơn dịch vụ cho thuê tài chính và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Công ty V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Hợp đồng cho thuê tài chính SBL010202210003 là ngày 05/4/2023; đối với Hợp đồng cho thuê tài chính SBL010202210034 là ngày 15/4/2023; đối với Hợp đồng cho thuê tài chính SBL010202212065 là ngày 25/3/2023. Ngày 20/7/2023, Công ty S đã có Thông báo số 165/2023/SBL về việc tuyên bố chấm dứt Hợp đồng cho thuê trước thời hạn gửi Công ty V để yêu cầu thanh toán nợ tồn đọng cho Công ty S chậm nhất vào cuối ngày 28/7/2023 với nợ gốc 1.659.412.200 đồng và nợ lãi (tạm tính) 47.922.400 đồng, tổng cộng: 1.707.334.600 đồng. Tuy nhiên Công ty V vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán và cũng không bàn giao các tài sản thuê cho Công ty S, vẫn đang quản lý sử dụng theo các Biên bản bàn giao tài sản
- Do Công ty V vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê nên căn cứ vào Điều 12, Điều 17 của các Hợp đồng thuê tài chính, Điều 481 Bộ luật Dân sự năm 2015 có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty S về việc chấm dứt các Hợp đồng cho thuê tài chính số SBL010202210003 ngày 04/10/2022, số SBL010202210034 ngày 26/10/2022, số SBL010202212065 ngày 30/10/2022trước hạn và Công ty V thanh toán tổng số tiền tạm tính đến ngày 16/8/2024 là 1.903.736.000 đồng, bao gồm: Nợ gốc: 1.648.462.900 đồng; tiền lãi trong hạn 151.773.900 đồng; tiền lãi quá hạn: 103.499.200 đồng. Ngoài ra, Công ty V vẫn phải tiếp tục chịu tiền lãi theo các Hợp đồng cho thuê tài chính đã ký nêu trên cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Công ty S theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong các Hợp đồng cho thuê tài chính. Trong trường hợp, Công ty V thanh toán đúng, đủ số nợ trên thì Công ty S sẽ không có yêu cầu về tài sản thuê và cho Công ty V mua lại giá trị tài sản thuê với các điều kiện được nêu trong các Hợp đồng cho thuê tài chính trên.
- [3.2] Về yêu cầu thu hồi các tài sản thuê:
- Căn cứ vào các Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 107062, 107060, 107057, 107059, 107058, 134300, 135854 do Phòng C1 Công an tỉnh Đ cấp, đủ cơ sở kết luận: Công ty S là chủ sở hữu của các tài sản thuê trên.
- Công ty V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán Hợp đồng cho thuê tài chính số SBL010202210003 ngày 04/10/2022, số SBL010202210034 ngày 26/10/2022, số SBL010202212065 ngày 30/10/2022 nên căn cứ vào điểm m khoản 1 Điều 14, điểm c khoản 2 Điều 17 các Hợp đồng cho thuê tài chính, Điều 482 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì trong trường hợp Công ty V không thanh toán đầy đủ số tiền nợ trên, Công ty S có quyền thu hồi các tài sản thuê để Công ty S tiến hành thanh lý tài sản thuê để thanh toán cho các khoản nợ tiền thuê mà Công ty V đang còn nợ Công ty S.
- Trường hợp Công ty V giao trả các tài sản thuê trên cho Công ty S để thanh lý thu hồi nợ nhưng không đủ để thanh toán các khoản nợ của Công ty V thì Công ty S yêu cầu Công ty V tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty S cho đến khi hết nợ.
- [4]. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn Công ty S được chấp nhận nên bị đơn Công ty V phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định.
Bị đơn là Công ty Hà Khang Vinh mặc dù Tòa áV đã triệu tập hợp lệ để cung cấp chứng cứ, tham gia phiên họp để kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là Công ty V theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 147, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 472, Điều 481, Điều 482 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 91, Điều 113 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Điều 3, Điều 20, Điều 21 và Điều 22 của Nghị định 39/2014/NĐ-CP ngày 07/5/2014 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính;
- Căn cứ Luật phí, lệ phí Tòa án và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Xử:
- Về hình thức: Xét xử vắng mặt bị đơn Công ty TNHH V.
- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH Một thành viên C thuê tài chính Ngân hàng C (SBL):
- - Chấm dứt các Hợp đồng cho thuê tài chính số SBL010202210003 ngày 04/10/2022, số SBL010202210034 ngày 26/10/2022, số SBL010202212065 ngày 30/10/2022. Buộc Công ty TNHH V phải thanh toán cho Công ty TNHH Một thành viên C thuê tài chính Ngân hàng C (SBL) tổng số tiền 1.903.736.000 đồng, bao gồm: Nợ gốc: 1.648.462.900 đồng; tiền lãi trong hạn 151.773.900 đồng; tiền lãi quá hạn: 103.499.200 đồng.
- Ngoài ra, Công ty TNHH V vẫn phải tiếp tục chịu tiền lãi theo các Hợp đồng cho thuê tài chính đã ký nêu trên cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Công ty TNHH Một thành viên C thuê tài chính Ngân hàng C (SBL) theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong các Hợp đồng cho thuê tài chính.
- Trong trường hợp, Công ty TNHH V thanh toán đúng, đủ số nợ trên thì Công ty TNHH Một thành viên C thuê tài chính Ngân hàng C (SBL) sẽ không có yêu cầu về tài sản thuê và cho Công ty TNHH V mua lại giá trị tài sản thuê với các điều kiện được nêu trong các Hợp đồng cho thuê tài chính trên.
- Trong trường hợp Công ty TNHH V không thanh toán các khoản nợ thuê trên thì buộc Công ty TNHH V bàn giao lại 07 tài sản thuê cho Công ty TNHH Một thành viên C thuê tài chính Ngân hàng C (SBL): 01 xe ô tô tải có mui có bàn nâng nhãn hiệu KIA, model: Thaco Frontier K200/HUNGNAM-MBBN, sản xuất năm 2019, xuất xứ Việt Nam, đã qua sử dụng có số khung RNHA05KHAKC000349, số máy K006123D4CB, biển số 60C-499.48; 01 xe ô tô tải có mui có bàn nâng nhãn hiệu KIA, model: Thaco Frontier K200-LMB1, sản xuất năm 2019, xuất xứ Việt Nam, đã qua sử dụng, số khung RNHA05KHAKC000345, số máy K006143D4CB, biển số 60C-487.91; 01 xe ô tô tải có mui nhãn hiệu KIA, model: Thaco Frontier K200-LMB1, sản xuất năm 2019, xuất xứ Việt Nam, đã qua sử dụng, số khung RNHA05KHAKC000348, số máy K006124D4CB, biển số 60C-492.62; 01 xe ô tô tải có mui nhãn hiệu KIA, model: Thaco Frontier K200-LMB1, sản xuất năm 2019, xuất xứ Việt Nam, đã qua sử dụng, số khung RNHA05KHAKC000347, số máy K006142D4CB, biển số 60C-493.86; 01 xe ô tô tải thùng mui bạt, nhãn hiệu Suzuki, model SK410K4, sản xuất năm 2019, xuất xứ Việt Nam, số khung RLSEDA21TJV204104, số máy F10A-ID736634, biển số 60C-496.25; 01 xe ô tô tải có mui nhãn hiệu KIA, model: Thaco Frontier K200-MB1-1, sản xuất năm 2019, xuất xứ Việt Nam, đã qua sử dụng, số khung RNHA05KHAKC000346, số máy K006141D4CB, biển số 60C-492.95; 01 xe ô tô tải có mui nhãn hiệu KIA, model: Thaco Frontier K200-MB1-1, sản xuất năm 2019, xuất xứ Việt Nam, đã qua sử dụng, số khung RNHA05KHAKC000344, số máy K006121D4CB, biển số 60C-490.09 để Công ty TNHH Một thành viên C thuê tài chính Ngân hàng C tiến hành thanh lý tài sản thuê để thanh toán khoản nợ tiền thuê.
- Trường hợp Công ty TNHH V giao trả các tài sản thuê trên để thanh lý thu hồi nợ nhưng số tiền thanh lý không đủ để thanh toán các khoản nợ của Công ty TNHH V thì yêu cầu Công ty TNHH V tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán số nợ còn lại cho Công ty TNHH Một thành viên C thuê tài chính Ngân hàng C (SBL)
- Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- Công ty TNHH V phải chịu tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 69.112.080 đồng
- Công ty TNHH Một thành viên C thuê tài chính Ngân hàng C (SBL) không phải chịu tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 34.341.644 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0037969 ngày 22/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh cho Công ty SBL
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
- Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày từ ngày tống đạt hợp lệ bản sao bản án hoặc được niêm yết hợp lệ tại địa phương.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ngọc Phương |
Bản án số 71/2024/KDTM-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về hợp đồng cho thuê tài chính
- Số bản án: 71/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng cho thuê tài chính
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CHO THUÊ TÀI CHÍNH
