|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 71/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16-7-2024 V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Thanh Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Phượng.
- Ông Phan Quốc Tiến.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 144/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 267/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Linh P, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Số B, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
-
- Bị đơn: Anh Võ Tánh T, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Chị Nguyễn Thị Linh P có mặt tại phiên tòa, anh Võ Tánh T vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Linh P trình bày:
- Về hôn nhân: Chị P và anh T kết hôn năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thành phố C ngày 25/7/2013. Thời gian chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn. Vợ chồng đã sống xa nhau từ năm 2019 đến nay.
Nay chị Nguyễn Thị Linh P yêu cầu ly hôn với anh Võ Tánh T.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Võ Hoàng T1, sinh ngày 29/5/2014. Hiện nay, con chung đang sống với chị P. Khi ly hôn, chị P yêu cầu được nuôi con chung tên Võ Hoàng T1, sinh ngày 29/5/2014 và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung với mức cấp dưỡng là 2.000.000 đồng/tháng.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
Bị đơn Võ Tánh T vắng mặt và không có văn bản ghi ý kiến gửi Tòa án.
Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án gồm:
- + Căn cước công dân tên Nguyễn Thị Linh P (Bản photo).
- + Trích khai sinh tên Nguyễn Tấn L (Bản sao).
- + Giấy chứng nhận kết hôn (Bản chính).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Linh P và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn anh Võ Tánh T cư trú tại xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Anh Võ Tánh T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Linh P yêu cầu ly hôn với anh Võ Tánh T.
Xét thấy, chị P và anh T kết hôn năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp ngày 25/7/2013, là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.
Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do cả hai bất đồng về quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Đầu năm 2024, chị L1 nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh T nhưng để hàn gắn tình cảm vợ chồng, chị L1 đã rút đơn khởi kiện. Tuy nhiên, chị L1 và anh T đã cố gắng hòa hợp nhưng không được, hôn nhân không còn hạnh phúc, không có tiếng nói chung. Chị P và anh T đã sống xa nhau từ năm 2019 đến nay.
Hiện nay, chị P xác định không còn tình cảm với anh T2, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống.
Như vậy, có cơ sở xác định hôn nhân giữa chị P và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, chị Nguyễn Thị Linh P yêu cầu ly hôn với anh Võ Tánh T là phù hợp theo quy định tại Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Chị P và anh T có 01 con chung tên Võ Hoàng T1, sinh ngày 29/5/2014. Hiện nay, con chung đang sống với chị P. Khi ly hôn, chị P yêu cầu được nuôi con chung tên Võ Hoàng T1, sinh ngày 29/5/2014.
Xét thấy, chị P đang trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Võ Hoàng T1. Tại Văn bản ý kiến ngày 30/5/2024, cháu T1 có nguyện vọng sống chung với chị P. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án anh T không có văn bản ý kiến về việc nuôi con. Do đó, để tránh việc thay đổi môi trường sống cũng như nhằm đảm bảo cho cháu phát triển tòan diện về mọi mặt cả vật chất lẫn tinh thần nên cần giao cháu T1 cho chị P tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
Sau khi ly hôn, chị P và anh T có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở; chị P cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung; anh T lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị P có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của anh T theo quy định tại Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị P yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung với mức cấp dưỡng là 2.000.000 đồng/tháng.
Xét thấy, sau khi ly hôn cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên. Do đó, chị P là người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.
Về mức cấp dưỡng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị P trình bày chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con là 2.000.000đồng/tháng và cung cấp tài liệu chứng cứ là hoá đơn mua hàng và phiếu thu tiền học phí. Chị P và anh T đều là giáo viên mức lương tương ứng nhau, hiện nay lương chị P khoảng 14.000.000 đồng/tháng. Do đó, đủ cơ sở xác định anh T có khả năng cấp dưỡng theo mức mà chị P yêu cầu.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị P xác định không có, không yêu cầu giải quyết; anh T không có Văn bản gửi cho Tòa án yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Linh P phải chịu án phí về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
Anh Võ Tánh T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Linh P.
- - Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Linh P được ly hôn với anh Võ Tánh T.
- - Về con chung: Giao con chung tên Võ Hoàng T1, sinh ngày 29/5/2014 cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng.
- Chị Nguyễn Thị Linh P và anh Võ Tánh T có quyền, nghĩa trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- - Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Buộc anh Võ Tánh T phải cấp dưỡng nuôi con chung tên Võ Hoàng T1, với mức cấp dưỡng là 2.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng từ tháng 7/2024 đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Linh P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án, số: 0008415 ngày 01/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh. Như vậy, chị P đã nộp xong tiền án phí về hôn nhân và gia đình.
- Buộc anh Võ Tánh T phải chịu án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hoàng Thanh Trúc |
Bản án số 71/2024/HNGĐ-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 71/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Ph Bị đơn Th
