Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VẠN NINH

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/HS-ST

Ngày 15 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Ảnh
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thạch Nguyễn Mai Thiện Bảo
  • Ông Đỗ Ngọc Quý
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Pháp - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 72/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Trương Lê T - sinh ngày 23 tháng 3 năm 1997, tại V, Khánh Hòa; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn T1 - sinh năm: 1970 và bà Lê Thị Mỹ T2 - sinh năm: 1965; vợ Hoàng Thị H (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2018; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh K. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Nguyễn Quốc H1 – sinh năm: 1995; trú tại: Thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  • + Ông Nguyễn Văn H2 – sinh năm: 1965; trú tại: Thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  • + Bà Biện Thị Đ – sinh năm: 1965; trú tại: Thôn Đ, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên sáng ngày 08/3/2024, Trương Lê T một mình đón xe đến thành phố Hồ Chí Minh tìm mua ma tuý sử dụng. Khi đến bến xe M thì T gặp một người (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 2.000.000 đồng ma tuý rồi đem về nhà tại thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa cất giấu sử dụng dần. Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 10/3/2024, Trương Lê T lấy số ma tuý còn lại sau khi sử dụng, bỏ vào vỏ bao thuốc lá hiệu White Horse, rồi điều khiển xe mô tô biển số 79N6-0436 đi mua đồ ăn. Khi đến thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, Triều gặp tổ tuần tra 979 Công an huyện V yêu cầu kiểm tra hành chính. Lo sợ bị phát hiện ma tuý, T ném bao thuốc lá bên trong có ma tuý xuống đất thì bị tổ tuần tra lập biên bản sự việc, thu giữ 01 bịch ni long màu trắng trong, kích thước (6 x 10)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng, được niêm phong vào phong bì ký hiệu A. Ngày 29/5/2024, Trương Lê T bị bắt tạm giam, bị tam giam từ ngày 29/5/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh K.

Tiến hành gửi mẫu A đi giám định.

Tại kết luận giám định số 220/2024/KL-KTHS ngày 15/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận: Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 14,8658 (Một bốn phẩy tám sáu năm tám gam), loại methamphetamine. Mẫu vật A còn lại sau giám định là 14,5099 gam(Một bốn phẩy năm không chín chín gam).

Quá trình điều tra, Trương Lê T khai nhận mua ma tuý về nhằm mục đích sử dụng.

Vật chứng vụ án: 14,5099 (một bốn phẩy năm không chín chín) gam methamphetamine, còn lại sau giám định và 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu White Horse, kích thước (9 x 5,8 x 2,5)cm.

Đối với người bán ma tuý cho Trương Lê T tại thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay, chưa xác định được nhân thân, lai lịch, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với xe mô tô hiệu Nakasei, gắn biển số 79N6-0436 được Trương Lê T sử dụng. Qua điều tra, xác định xe này do Biện Thị Đ đứng tên chủ sở hữu và đã bán lại cho người khác. Sau đó, Nguyễn Văn H2 mua lại xe này sử dụng cho đến nay. Ngày 03/3/2024, Nguyễn Quốc H1 (con của H2) đem xe thế chấp cho Trương Lê T với số tiền 500.000 đồng. Ngày 10/3/2024, Trương Lê T tự ý sử dụng xe mô tô trên để đi lại và tàng trữ trái phép chất ma tuý thì Nguyễn Văn H2 không biết nên không có cơ sở để xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 71/CT-VKSVN ngày 17 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố để xét xử bị cáo Trương Lê T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo Trương Lê T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
  • - Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trương Lê T theo tội danh, khung hình phạt như trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo từ 07 năm đến 08 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung. Về vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 14,5099 gam methamphetamine và 01 vỏ bao thuốc lá hiệu White Horse, kích thước (9 x 5,8 x 2,5)cm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng bị cáo không có ý kiến hoặc yêu cầu gì về sự vắng mặt của họ, đồng thời họ đã có lời khai tại hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy, căn cứ Điều Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo Trương Lê T đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình như nội dung bản Cáo trạng số 71/CT-VKSVN ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; phù hợp với Biên bản sự việc lập ngày 10/3/2024, tang vật thu giữ được, Kết luận giám định và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.

Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 10/3/2024, tại thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa Trương Lê T có hành vi tàng trữ trái phép 14,8658 (một bốn phẩy tám sáu năm tám) gam methamphetamine để sử dụng.

Theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì:

“ 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

...

g) methamphetamine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

...”

Như vậy, hành vi của bị cáo Trương Lê T tàng trữ trái phép ma túy như trên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo trên đây là rất nghiêm trọng; đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là xâm phạm đến hoạt động tàng trữ ma túy; xâm phạm trật tự an toàn xã hội; tạo điều kiện cho tệ nạn ma túy phát triển.

Bị cáo biết rõ ma túy là chất gây nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý nhưng vẫn mua về tàng trữ và sử dụng. Vì vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và ngăn ngừa chung.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, giúp bị cáo yên tâm cải tạo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Tại phiên tòa, bị cáo Trương Lê T khai có nghề nghiệp là lao động tự do nhưng công việc không thường xuyên, thu nhập không ổn định và qua xác minh bị cáo cũng không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ, nhưng căn cứ lời khai và các yêu cầu thì Nguyễn Văn H2 đã nhận lại xe mô tô hiệu Nakasei, gắn biển số 79N6-0436, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Quốc H1, Biện Thị Đ, không ai có yêu cầu bị cáo T bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xét.

[7] Về vật chứng vụ án: 14,5099 (một bốn phẩy năm không chín chín) gam methamphetamine, còn lại sau giám định và 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu White Horse, kích thước (9 x 5,8 x 2,5)cm, đây là vật phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo Trương Lê T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật với số tiền bị cáo phải chịu là 200.000đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với bị cáo Trương Lê Triều .

  • - Xử phạt bị cáo Trương Lê T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 29 tháng 5 năm 2024.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Không xét việc bồi thường thiệt hại về tài sản giữa bị cáo Trương Lê T với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn H2, Nguyễn Quốc H1, Biện Thị Đ.
  • - Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Tịch thu và tiêu hủy 14,5099 (một bốn phẩy năm không chín chín) gam methamphetamine và 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu White Horse, kích thước (9 x 5,8 x 2,5)cm.
  • (Tình trạng vật chứng như Biên bản về việc giao, nhận vật chứng giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh ngày 30 tháng 7 năm 2024).
  • - Về án phí: Bị cáo Trương Lê T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn).
  • - Quyền kháng cáo của bị cáo là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; quyền kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) là 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND huyện Vạn Ninh;
  • - Công an huyện Vạn Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Vạn Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Hồ sơ THA;
  • - Lưu: VT, HSVA, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Ảnh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thạch Nguyễn Mai Thiện Bảo

Đỗ Ngọc Quý

Nguyễn Ngọc Ảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 71/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với bị cáo Trương Lê Triều . - Xử phạt bị cáo Trương Lê T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 29 tháng 5 năm 2024. - Về trách nhiệm dân sự: Không xét việc bồi thường thiệt hại về tài sản giữa bị cáo Trương Lê T với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn H2, Nguyễn Quốc H1, Biện Thị Đ. - Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu và tiêu hủy 14,5099 (một bốn phẩy năm không chín chín) gam methamphetamine và 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu White Horse, kích thước (9 x 5,8 x 2,5)cm. (Tình trạng vật chứng như Biên bản về việc giao, nhận vật chứng giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh ngày 30 tháng 7 năm 2024). - Về án phí: Bị cáo Trương Lê T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn). - Quyền kháng cáo của bị cáo là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; quyền kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) là 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger