|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 71/2023/DS-ST Ngày: 15 -8 - 2023 V/v: “Tranh chấp dân sự về Hợp đồng mua bán” |
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Trần Văn Hân Em.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Dương Triết Minh.
- Ông Phạm Minh Quốc.
- Thư ký phiên toà: bà Đặng Huỳnh Hoa Lý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Lam Em - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 126/2023/TLST-DS ngày 25/4/2023 về việc “Tranh chấp dân sự - Hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2023/QĐXX-DS ngày 10/7/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Nguyễn Thế H, sinh năm 1957 (Chủ hộ kinh doanh Cửa hàng V).
- Bị đơn: - Ông Dương Văn Duy T, sinh năm 1965 (Vắng mặt).
Địa chỉ: khóm Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Thế H là: ông Phùng Thanh H1, sinh năm 1969. (Văn bản ủy quyền ngày 20/4/2023). (Có mặt).
Địa chỉ: khóm Đông Sơn 2, thị trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Chỗ ở: ấp Bình Thành, xã Bình Thành, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Bà Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1962 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 29/5/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Thế H (do ông Phùng Thanh H1, đại diện) trình bày: khoảng năm 2008, vợ chồng ông Dương Văn Duy T (sau đây gọi là ông T) và bà Nguyễn Ngọc D (sau đây gọi là bà D) nhiều lần đến mua phân bón và thuốc trừ sâu của ông Nguyễn Thế H (sau đây gọi là ông H) để phục vụ sản xuất nông nghiệp. Hình thức mua bán là khách hàng mua hàng trước, đến vụ thu hoạch lúa mới trả tiền. Ngày 12/9/2009, các bên đối chiếu sổ sách, ông T thừa nhận còn nợ ông H 22.000.000 đồng. Đến ngày 08/8/2012 ông T tự viết tờ cam kết, hứa đến tháng 11 năm 2013 (âm lịch) sẽ trả cho ông H dứt số tiền còn nợ, nhưng đến nay ông T và bà D vẫn không trả.
Tại đơn khởi kiện, ông H yêu cầu ông T, bà D có trách nhiệm trả cho ông H số tiền mua phân bón, thuốc trừ sâu còn nợ 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng) và lãi suất theo quy định của pháp luật kể từ ngày 08/8/2012 đến khi xét xử. Tuy nhiên, do bà D không ký tên vào tờ cam kết, không có mặt tại địa phương nên ông H rút lại yêu cầu khởi kiện đối với bà D mà chỉ yêu cầu một mình ông T trả số tiền 22.000.000 đồng; đồng thời rút lại yêu cầu tính lãi suất để tạo điều kiện cho bị đơn trả nợ.
Bị đơn ông Dương Văn Duy T, bà Nguyễn Ngọc D vắng mặt và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện tại, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như: xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 26 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 và Điều Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên vi phạm Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: qua xem xét toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 430, Điều 440 Bộ luật dân sự năm 2015, tuyên:
- + Buộc ông T có trách nhiệm trả cho ông H số tiền 22.000.000 đồng.
- + Đình chỉ yêu cầu tính lãi suất từ ngày 08/8/2012 đến khi xét xử.
- + Về án phí: ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: đây là tranh chấp dân sự về Hợp đồng mua bán, theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông T, bà D có địa chỉ tại xã B, huyện T, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông T, bà D đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, các lần triệu tập ông T, bà D đều vắng mặt, không lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.
[3] Về nội dung: ông H yêu cầu ông T, bà D trả cho ông H số tiền mua phân bón, thuốc trừ sâu là 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng) và lãi suất theo quy định của pháp luật từ ngày 08/8/2012 cho đến khi xét xử. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tự nguyện rút lại yêu cầu bà D trả nợ, chỉ yêu cầu ông T trả số tiền 22.000.000 đồng; đồng thời rút toàn bộ yêu cầu tính lãi suất.
[3.1] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần triệu tập hợp lệ ông T, bà D để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; đồng thời đối chiếu nợ nhưng ông T, bà D vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không lý do và cũng không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số nợ 22.000.000 đồng.
[3.2] Xét thấy, bị đơn ông T ký tên, điểm chỉ xác nhận vào Tờ cam kết ngày 08/8/2012 nợ ông H 22.000.000 đồng và hẹn đến tháng 11 năm 2012 sẽ trả dứt nợ. Tuy nhiên, từ khi viết Tờ cam kết cho đến nay ông T không trả được khoản tiền nào. Khi các bên thực hiện giao dịch mua bán, chỉ có ông T ký vào Tờ cam kết trả nợ (không có chữ ký của bà Nguyễn Ngọc D) nên nguyên đơn rút lại yêu cầu bà D trả nợ. Xét, việc rút lại yêu cầu trên là sự tự nguyên của nguyên đơn và phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bà Nguyễn Ngọc D trả số tiền 22.000.000 đồng.
[4] Xét thấy, về thời hạn giao dịch mua bán giữa nguyên đơn và bị đơn được xác lập khoảng năm 2008 nhưng đến nay bị đơn chưa thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền, nên đây là giao dịch đang được thực hiện; nội dung và hình thức giao dịch phù hợp với Bộ luật dân sự năm 2015 nên áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 là đúng với quy định tại điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015.
[5] Từ nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy, giao dịch mua bán giữa ông H với ông T được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội, nhằm xác lập quyền, nghĩa vụ của các bên, phù hợp quy định tại Điều 430 Bộ luật dân sự năm 2015 nên giao dịch hợp pháp.
Về nghĩa vụ trả tiền: tại khoản 1 Điều 440 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền theo thời hạn, địa điểm và mức tiền được quy định trong hợp đồng”. Ông T ký cam kết ngày 08/8/2012 nợ ông H số tiền 22.000.000 đồng nhưng đến nay chưa trả. Do ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ông H yêu cầu trả số tiền 22.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 440 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc ông Dương Văn Duy T trả cho ông Nguyễn Thế H số tiền 22.000.000 đồng.
[6] Về lãi suất, tại đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất theo quy định của pháp luật từ ngày 08/8/2012 cho đến khi xét xử nhưng tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn tự nguyện rút lại toàn bộ yêu cầu tính lãi suất. Xét, đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu này.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: bị đơn ông T bị buộc trả số tiền trên nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Lẽ ra, khi khởi kiện vụ án nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí nhưng do nguyên đơn (ông H) thuộc đối tượng người cao tuổi (có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí) nên được chấp nhận miễn nộp tiền tạm ứng án phí.
[8] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 430, Điều 440, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thế H.
- Buộc ông Dương Văn Duy T có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Thế H (Chủ hộ kinh doanh Cửa hàng vật tư nông nghiệp Lượng H2) số tiền 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng).
- Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
- Đình chỉ một phần yêu cầu của ông Nguyễn Thế H về việc yêu cầu bà Nguyễn Ngọc D trả số tiền 22.000.000 đồng; đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả lãi suất từ ngày 08/8/2012 đến khi xét xử.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Dương Văn Duy T phải chịu 1.100.000 đồng (một triệu, một trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Nguyễn Thế H không phải chịu án phí.
- Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND huyện Thoại Sơn; - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn; - Các đương sự (Để thi hành); - Lưu văn phòng; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Hân Em |
Bản án số 71/2023/DS-ST ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG về tranh chấp dân sự về hợp đồng mua bán
- Số bản án: 71/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự về Hợp đồng mua bán
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: H rút lại yêu cầu khởi kiện đối với bà D mà chỉ yêu cầu một mình ông Tr trả số tiền 22.000.000 đồng; đồng thời rút lại yêu cầu tính lãi suất để tạo điều kiện cho bị đơn trả nợ
