|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 71/2024/HS-ST Ngày 14-05-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Nhường.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tạ Văn Doanh – Cán bộ nghỉ hưu.
- Ông Ngô Đức Thủy – Giáo viên trưởng tiểu học xã Phong Vân, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Đào Duy Đông - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13, 14 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/HSST-QĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024; ; Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2024/HSST-QĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 26/TB-TA ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ tên: Đàm Văn N; sinh năm 1993 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; trú quán: thôn Đ, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; chỗ ở: thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Kinh doanh; Đảng, đoàn thể: Đảng viên Đ4 tại Quyết định số 194/QQĐ/UBKTHU ngày 22/4/2024 của Ủy ban kiểm tra huyện hủy huyện L quyết định thi hành kỷ luật đối với Đàm Văn N bằng hình thức: Khai trừ ra khỏi Đảng; Con ông Đàm Văn K, sinh năm 1970 và bà: Hoàng Thị M, sinh năm 1971; có vợ là Thân Thị Hồng Q sinh năm 1993 và 01 con, sinh năm 2017; anh, chị em ruột: Có 2 chị em, bị cáo là thứ 2.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 05/11/2023 đến ngày 14/11/2023 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ tên: Nguyễn Tất T; sinh năm 2005 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; trú quán: thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông: Không có; Con bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1982; vợ, con: Chưa có; anh, chị em ruột: Không có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
3. Họ tên: Hoàng Thế D; sinh năm 2005 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; trú quán: thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Sán Dìu; tôn giáo: không; hiới tính: Nam; tên gọi khác: Không; trình độ học vấn: 10/12; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Hoàng Văn G, sinh năm 1984 và bà: Hà Thị D1, sinh năm 1986; vợ, con: Chưa có; anh, chị em ruột: Có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 05/11/2023 đến ngày 14/11/2023 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
4. Họ tên: Nguyễn Hữu Đ; sinh năm 2004, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; trú quán: thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1984 và bà: Lý Thị M1, sinh năm 1986; vợ, Con: Chưa có; anh, chị em ruột: Có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất.
Tiền án: Có 01 tiền án: Tại bản án số 55/2023/HSST, ngày 11/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xử phạt Nguyễn Hữu Đ 10 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Được trừ thời gian tạm giữ từ kể từ ngày 6/01/2023 đến ngày 8/01/2023 là 02 ngày, quy đổi bằng 6 ngày cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo phải chấp hành 9 tháng 24 ngày cải tạo không giam giữ. Đạo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ từ ngày 20/6/2023, ngày 17/8/2023 Đ đã chấp hành xong tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
5. Họ tên: Trần Hữu P; sinh ngày 20 tháng 10 năm 2007, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Trú quán: thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; dân tộc: Sán dìu; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Trần Văn Q1, sinh năm 1980 và bà Đỗ Thị V, sinh năm 1982; vợ, Con: Chưa có; anh, chị em ruột: Có 2 anh em, bị cáo là thứ 2.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
6. Họ tên: Lý Văn N1, sinh năm 2003, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; trú quán: thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Sán dìu; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 4/12; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Lý Văn N2, sinh năm 1983 (đã chết) và bà Diệp Thị X, sinh năm 1982; vợ, Con: Chưa có; anh, chị em ruột: Có 3 anh em, bị cáo là thứ 2.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 05/11/2023 đến ngày 14/11/2023 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
7. Họ tên: Phạm Đức T2, sinh ngày 25 tháng 10 năm 2007, tại: huyện L, tỉnh Bắc Giang; trú quán: thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; chỗ ở hiện nay: thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Phạm văn K1, sinh năm 1986 và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1986; vợ, Con: Chưa có; anh, chị em ruột: Có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
8. Họ tên: Nguyễn Ngọc T4, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2007, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; trú quán: thôn K, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Học sinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Hồng C (đã chết) và bà Phạm Thị N3, sinh năm 1973; vợ, Con: Chưa có; anh, chị em ruột: Có 2 chị em, bị cáo là thứ 2.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
9. Họ tên: Ngô Thế P1, sinh ngày 26 tháng 6 năm 2005, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; trú quán: thôn Đ, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Học sinh; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 11/12; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Ngô Văn T5, sinh năm: 1982 và bà Hoàng Thị H1, sinh năm 1984; vợ, Con: Chưa có; anh, chị em ruột: Có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 134/2023/HS-ST, ngày 03/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xử phạt Ngô Thế P1 2 năm 6 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ số ngày đã bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 14/11/2023 đến ngày 19/02/2023).
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
10. Họ tên: Phạm Văn P2, sinh năm 2000 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; trú quán: thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Phạm Văn H2, sinh năm 1974 và bà Vũ Thị T6, sinh năm 1976; vợ, con: Chưa có; anh, chị em ruột: Có 2 chị em, bị cáo là thứ 2.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
11. Họ tên: Hoàng Văn C1, sinh năm 1995 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; trú quán: thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; Đảng, đoàn thể: Đảng viên Đ4; tại Quyết định số 148/QQĐ/UBKTHU ngày 15/4/2024 của Ủy ban kiểm tra huyện hủy huyện L quyết định thi hành kỷ luật đối với Hoàng Văn Công b hình thức: Khai trừ ra khỏi Đảng; con ông Hoàng Văn B, sinh năm 1970 và bà Trịnh Thị C2, sinh năm 1970; vợ, con: Chưa có; anh, chị em ruột: Có 3 chị em, bị cáo là thứ 2.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
12. Họ tên: Nguyễn Ngọc V1, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2006 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; trú quán: thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Học sinh; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 10/12; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1983 và bà Đào Thị N4 sinh năm 1985; vợ, con: Chưa có; anh, chị em ruột: Có 2 chị em, bị cáo là thứ 2.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo:
- Ông Trần Văn Q1, sinh năm 1980. Có mặt
- Anh Phạm Văn P3, sinh năm 1986; chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1986.
- Chị Phạm Thị N3, sinh năm 1973. Vắng mặt
- Anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 1983; chị Đào Thị N4, sinh năm 1985. (Anh H3 vắng mặt chị N4 có mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang là người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Hữu P.
Cùng địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Ông Vũ Văn T7, sinh năm 1991. Địa chỉ: nhà B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang – Bí thư Đoàn thanh niên xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Là người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Đức T2, sinh ngày 25/10/2007. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn K, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Là người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Ngọc T4, sinh ngày 30/10/2007.
Cùng địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Là người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Ngọc V1, sinh ngày 19/11/2006.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Mai Thị H4, sinh năm 1982. Vắng mặt
- Bà Phạm Thị T8, sinh năm 1957. Có mặt
- Anh Trần Văn Q1, sinh năm 1980. Có mặt
- Chị Đào Thị N4, sinh năm 1984. Có mặt
- Anh Đồng Xuân C3, sinh năm 1978. Vắng mặt
- Anh Leo Văn M2, sinh năm 1987. Vắng mặt
- Chị Thân Thị Hồng Q, sinh năm 1993. Có mặt
- Anh Nguyễn Văn Q2, sinh năm 1987. Vắng mặt
- Anh Hoàng Công S, sinh năm 1989. Vắng mặt
- Đinh Văn D2, sinh ngày 17/02/2007. Vắng mặt
- Nguyễn Trọng T9, sinh ngày 06/2/2007. Có mặt
- Triệu Văn Đ2, sinh ngày 26/8/2008. Vắng mặt
- Diệp Long N5, sinh ngày 07/5/2007. Vắng mặt
- Đồng Việt A, sinh ngày 05/01/2008. Vắng mặt
- Leo Học T10, sinh ngày 07/01/2007. Vắng mặt
- Bùi Quang A1, sinh ngày 05/02/2007. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn M, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn Ả, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn K, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn P, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện hợp pháp: Anh Đinh Văn P4, sinh năm 1977; chị Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1981. Vắng mặt
Cùng địa chỉ: Thôn P, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện hợp pháp: Anh Nguyễn Trọng L, sinh năm 1980. Có mặt
Địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện hợp pháp: Chị Vi Thị L1, sinh năm 1979. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện hợp pháp: Anh Diệp Văn S1, sinh năm 1981. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện hợp pháp: Anh Đồng Xuân C3, sinh năm 1978. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện hợp pháp: Anh Leo Văn M2, sinh năm 1987. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Tổ dân phố Q, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện hợp pháp: Anh Bùi L2, sinh năm 1982. Vắng mặt
Địa chỉ: Tổ dân phố Q, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng:
- Nguyễn Bảo A2, sinh ngày 09/11/2007. Vắng mặt.
- Trương Văn D3, sinh ngày 25/8/2008. Vắng mặt.
- Hà Gia H5, sinh ngày 04/11/2007. Vắng mặt.
- Chị Đào Thị G1, sinh năm 1985. Vắng mặt.
- Anh Đào Quốc V2, sinh năm 1973. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn M, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện hợp pháp: Anh Nguyễn Duy T11, sinh năm 1985; chị Mai Thị H4, sinh năm 1982. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn M, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Văn L3 - Bí thư Đoàn thanh niên thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện hợp pháp: Anh Hà Văn Q3, sinh năm 1974. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Người bào chữa:
- Ông Thân Văn L4 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B, bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Ngọc V1, bị cáo Trần Hữu P, bị cáo Phạm Đức T2. Có mặt.
- Ông Nguyễn Văn P5 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B, bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Tất T, bị cáo Nguyễn Ngọc T4. Vắng mặt
* Người tham gia tố tụng khác:
- Ông Trần Quang G2 - Bí thư đoàn thanh niên xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- Ông Nguyễn Việt T12 - Bí thư đoàn thanh niên xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- Ông Vũ Văn T7 - Bí thư đoàn thanh niên xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- Ông Nguyễn Quốc H6 - Bí thư đoàn thanh niên Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên L5. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong các ngày 07/9/2023 và ngày 03/11/2023 bị cáo Nguyễn Tất T và Hoàng Thế D đã 02 lần cùng một số đối tượng khác thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng trên địa bàn huyện L, tỉnh Bắc Giang. Cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng hơn 22 giờ ngày 07/9/2023, tại đường Q, thuộc địa phận thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang bị cáo Hoàng Văn C1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu sơn Đỏ – đen, biển kiểm soát 98B3-840.21; bị cáo Phạm Văn P2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Winner X, màu sơn Đỏ – đen, biển kiểm soát: 98E1-814.97; bị cáo Nguyễn Tất T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại WinnerX, màu sơn Đỏ – đen, biển kiểm soát: 12X1-123.28; bị cáo Trần Hữu P, sinh ngày 20/10/2007 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu sơn đen, biển kiểm soát: 98C1-216.47 và Nguyễn Ngọc V1, sinh ngày 19/11/2006 cho bị cáo Hoàng Thế D mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn Vàng - đen – bạc, biển kiểm soát: 98B1-597.19 để D điều khiển xe mô tô cùng P2, T và C1 đua xe. Khi bắt đầu thì D, P2, T, C1 mỗi người ngồi trên một xe mô tô nổ máy dàn hàng ngang rồi vặn ga điều khiển xe phóng nhanh trên đoạn đường dài khoảng 100 mét hướng thị trấn C đi huyện L, sau đó quay lại điểm xuất phát. Quá trình các đối tượng trên đua xe mô tô thì V1; Phạm Đức T2, sinh ngày 25/10/2007, trú tại thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang vỗ tay hò hét cổ vũ; Nguyễn Bảo A2, sinh ngày 09/11/2007, trú tại thôn M, xã P, huyện L lấy 01 tầu lá chuối ở gần đó phất và hô để D, P2, T và C1 xuất phát đua xe; Hà Gia H5 sinh ngày 04/11/2007, trú tại thôn C, xã P, huyện L mượn điện thoại nhãn hiệu Iphone của Bảo A2 để chơi game, sau đó thấy mọi người đua xe thì H5 dùng điện thoại trên quay video. Sau khi H5 quay vi deo trên, khoảng hơn 22 giờ cùng ngày, T đã đăng đoạn vi deo trên lên tài khoản Tiktok của T mang tên “Nguyễn Tất T”. Ngày 10/9/2023, Công an huyện L phát hiện trên trang mạng xã hội, tài khoản T13 mang tên “Nguyễn Tất T” đăng tải 01 đoạn video với nội dung có một nhóm thanh niên tụ tập đua xe trái phép trên Quốc lộ C, khu vực đối diện Trường THPT L6 số 3 thuộc địa phận thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang nên đã tiến hành điều tra, xác minh nội dung video nêu trên.
Ngày 12/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện L tiến hành xác định: Hiện trường nơi xảy ra vụ án là trên đường Q, thuộc địa phận thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Ngày 12/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tạm giữ các đồ vật, tài liệu gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe EXCITER, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát: 98B3-840.21; 01 (một) đăng ký xe mô tô, xe máy số: 98 009473 do Hoàng Văn C1 giao nộp; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn vàng đen bạc, biển kiểm soát 98B1-597.19; 01 (một) đăng ký xe mô tô, xe máy số: 062730 do Nguyễn Ngọc V1 giao nộp; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe EXCITER, màu sơn đen, biển kiểm soát: 98C1-216.47; 01 (một) đăng ký xe mô tô, xe máy số: 98 003087 do Trần Hữu P giao nộp; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Winner X, màu sơn đen vàng xám, biển kiểm soát: 98E1-814.97; 01 (một) đăng ký xe mô tô, xe máy số: 98 009317 do Phạm Văn P2 giao nộp; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Winner, màu sơn đen đỏ, biển kiểm soát: 12X1-123.28; 01 (một) đăng ký xe mô tô, xe máy số: 006795 do Nguyễn Tất T giao nộp; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn đen xám, biển kiểm soát 98Y1-0735; 01 (một) đăng ký xe mô tô, xe máy số: 043183 và 01 (một) điện thoại di động Iphone Xs màu đen do Nguyễn Bảo A2 giao nộp.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone XS tạm giữ của Nguyễn Bảo A2, quá trình kiểm tra phát hiện 02 đoạn video có nội dung các đối tượng nêu trên đua xe, gồm: 01 đoạn có thời lượng 06 giây, được quay vào hồi 22 giờ 04 phút ngày 07/9/2023; 01 đoạn có thời lượng 09 giây, được quay vào hồi 22 giờ 11 phút ngày 07/9/2023.
Đối với Trần Hữu P; Nguyễn Bảo A2; Trương Văn D3; Phạm Đức T2 tính đến thời điểm xảy ra vụ việc (ngày 07/9/2023) đều chưa đủ 16 tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang không xem xét xử lý hình sự đối với Trần Hữu P, Nguyễn Bảo A2, Trương Văn D3 và Phạm Đức T2.
Về vật chứng:
+ Ngày 10/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại các đồ vật, tài sản cho các chủ sở hữu hợp pháp gồm: Trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn đen xám, biển kiểm soát 98Y1-0735, 01 (một) đăng ký xe mô tô, xe máy số: 043183 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPhone Xs, màu đen cho bà Mai Thị H4, sinh năm 1982, trú tại: thôn M, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang (là mẹ của Nguyễn Bảo A2); trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn vàng đen bạc, biển kiểm soát 98B1-59719,01 (một) đăng ký xe mô tô, xe máy số: 062730 cho bà Đào Thị N4, sinh năm 1984, trú tại: thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang (là mẹ của Nguyễn Ngọc V1); trả lại 01 (một) mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Winner, màu sơn đen đỏ, biển kiểm soát: 12X1-12328, 01 (một) đăng ký xe mô tô, xe máy số: 006795 cho bà Phạm Thị T8, sinh năm 1957, trú tại: thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang (là bà ngoại của Nguyễn Tất T); trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe EXCITER, màu sơn đen, biển kiểm soát: 98C1-21647, 01 (một) đăng ký xe mô tô, xe máy số: 99 003087 cho ông Trần Văn Q1, sinh năm 1980, trú tại: thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang (là bố của Trần Hữu P).
+ Các vật chứng còn lại gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe EXCITER, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát: 98B3-840.21,01 (một) đăng ký xe mô tô, xe máy số: 98 009473, biển số xe: 98B3-840.21 mang tên Hoàng Văn C1 và 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Winner X, màu sơn đen vàng xám, biển kiểm soát: 98E1-814.97,01 (một) đăng ký xe mô tô, xe máy số: 98 009317, biển số xe: 98E1-814.97 mang tên Phạm Văn P2 là phương tiện phạm tội, được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn để xử lý theo quy định.
Lần thứ hai: Khoảng hơn 23 giờ 00 ngày 03/11/2023, anh Triệu Văn Đ2, sinh năm 2008 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YALIM, biển kiểm soát 98AB-072.43 chở anh Nguyễn Trọng T9, sinh năm 2007; anh Diệp Long N5, sinh năm 2007 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave, biển kiểm soát 98B3-748.16 chở anh Đồng Việt A, sinh năm 2008; anh Leo Học T10, sinh năm 2007 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave, biển kiểm soát 98E1-588.61 chở anh Bùi Quang A1, sinh năm 2007 đi trên Quốc lộ C, hướng huyện L về huyện L, khi đi đến thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang thì gặp xe ô tô nhãn hiệu FORD EVERET, màu trắng, biển kiểm soát 98A-666.93 do Đàm Văn N, sinh năm 1993, trú quán: thôn Đ, xã P, huyện L (chỗ ở: thôn P, xã P, huyện L) điều khiển chở Nguyễn Tất T, sinh năm 2005; Ngô Thế P1, sinh năm 2005; Hoàng Thế D, sinh năm 2005; Phạm Đức T2, sinh năm 2007. N cho rằng nhóm của anh Đ2 tạt đầu xe ô tô của N và là nhóm thanh niên trước đó đã sử dụng vỏ chai thủy tinh ném vào quán trà sữa G3 của N tại thôn P, xã P, huyện L, nên N đã gọi điện thoại cho Trần Hữu P, sinh năm 2007 bảo P chuẩn bị tuýp sắt, gạch đá đi xuống khu vực đập Hạ Mã trên Quốc lộ C thuộc thôn H, xã P, huyện L để đợi nhóm N về cùng chặn đánh nhóm của anh Đ2. Sau khi được N gọi điện thông báo, P đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, biển kiểm soát 98B2-127.43 chở Lý Văn N1, sinh năm 2003 cầm theo 01 gậy tuýp sắt từ quán trà sữa G4 đi xuống khu vực đập Hạ Mã, khi đến nơi thì N1 xuống xe đứng chờ nhóm của N đến, còn P điều khiển xe mô tô quay lại quán G5 thì gặp Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 2004 và Nguyễn Ngọc T4, sinh năm 2007 tại quán G5. P rủ Đ, T4 cùng đi chặn đánh nhóm của anh Đ2 thì Đ, T4 đồng ý. Sau đó P cầm 02 thanh gậy kim loại điều khiển xe mô tô và Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave, biển kiểm soát 98B1-278.32 chở T4 ngồi sau cầm theo nửa viên gạch nhặt từ cửa quán GUOCHA đi xuống khu vực đập Hạ Mã . Còn N sau khi gọi điện cho P xong thì N điều khiển xe ô tô vượt lên trước nhóm Đ2, khi đến khu vực đập H thì N dừng xe lại để cho P1, T2, T và D xuống xe cùng tập hợp với N1, P, Đ, T4 đợi đánh nhóm cháu Đ2 còn N điều khiển xe về quán GUOCHA. Trong lúc đứng đợi thì T, N1 và P1 mỗi người cầm 01 gậy kim loại do P mang đến, T2, D, T4 nhặt gạch, đất, đá cầm ở tay. Khi thấy nhóm của anh Đ2 điều khiển xe đi đến thì nhóm của N sử dụng gạch đá ở ven đường để ném và sử dụng gậy kim loại để chặn xe mô tô lại khiến xe mô tô do anh N5 điều khiển bị đổ, anh N5 và anh Việt A bỏ chạy bộ. Còn xe mô tô do anh Đ2 điều khiển và xe mô tô do anh T10 điều khiển chạy vượt qua được thì P điều khiển xe mô tô chở N1 cầm 01 gậy kim loại; Đ điều khiển xe mô tô chở T4; N điều khiển xe ô tô từ quán GUOCHA đuổi theo xe mô tô do anh T10 và anh Đ2 điều khiển. Khi đến thôn H, xã T, huyện L thì xe mô tô của P ép được xe mô tô của anh T10 vào lề đường khiến xe mô tô do anh T10 điều khiển lao xuống mương ven đường làm anh T10 và anh Quang A1 bị ngã, N1 và N xuống xe đỡ anh T10 và anh Quang A1 lên đường. Còn xe mô tô của Đ và N1 tiếp tục đuổi theo xe mô tô của Đ2 nhưng không đuổi được. Khi đỡ anh T10 và anh Quang A1 lên đường, sợ anh T10 và anh Quang A1 bị thương nên N đã bảo anh T10 và anh Quang A1 lên xe ô tô về quán GUOCHA thì anh T10 và anh Quang A1 đồng ý. Sau đó N điều khiển xe ô tô chở N1, anh T10 và anh Quang A1 về quán G4, những người còn lại cũng đi xe mô tô về quán. Khi về đến quán G5 thì nhóm của N hỏi anh T10 và anh Quang A1 về việc có phải các anh đã ném vỏ chai thủy tinh vào quán trà sữa G4 của N không thì anh T10 và Quang A1 không thừa nhận việc có ném vỏ chai thủy tinh vào quán G6. Sau đó thấy anh T10 và anh Quang A1 không bị thương tích gì thì N bảo Đ và N1 điều khiển 02 xe mô tô chở anh T10 và Quang A1 quay lại nơi bị ngã xe để anh T10 và anh Quang A1 lấy xe mô tô đi về. Các ngày 05/11/2023, 06/11/2023, 08/11/2023, các anh Bùi Quang A1, Leo Văn T14, Nguyễn Trọng T9, Đồng Việt A, Triệu Văn Đ2, Diệp Long N5 có đơn trình báo gửi Công an huyện L đề nghị giải quyết.
Ngày 05/11/2023 Phạm Đức T2, Nguyễn Tất T, Nguyễn Hữu Đ, Ngô Thế P1, Đàm Văn N, Hoàng Thế D, Lý Văn N1, Trần Hữu P, Nguyễn Ngọc T4 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.
Ngày 05/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L khám xét khẩn cấp nơi ở của Đàm Văn N, thu giữ 02 đoạn gậy kim loại đều có đường kính 2,5cm, chiều dài mỗi đoạn lần lượt là 137,5cm và 119cm; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 98B1-278.32.
Ngày 05/11/2023, 19/11/2023 Đàm Văn N giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L 01 xe ô tô nhãn hiệu FORD EVERET, màu trắng, biển kiểm soát 98A-666.93; 01 (một) gậy kim loại hình trụ tròn, rỗng giữa, dài 131cm, đường kính 2,5cm.
Ngày 06/11/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành xác định hiện trường nơi xảy ra vụ án là Quốc lộ C đoạn từ Km29+400 thuộc thôn P, xã P đến K+20 thuộc thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, là khu vực đông dân cư.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành làm việc với Ban quản lý thôn P, xã P và một số hộ dân sinh sống gần hiện nơi xảy ra vụ việc, xác định việc các bị cáo tổ chức đua xe và tụ tập đánh nhau gây mất trật tự, ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của người dân.
Về vật chứng:
+ Các ngày 19/12/2023; 01/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp gồm: trả cho chị Thân Thị Hồng Q 01 xe ô tô nhãn hiệu FORD EVERET, màu trắng, biển kiểm soát 98A-666.93; trả cho anh Hoàng Công S, sinh năm 1989, trú tại: thôn K, xã P, huyện L 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98B1-278.32.
+ Đối với các vật chứng còn lại gồm: 01 (một) gậy kim loại hình trụ tròn, rỗng giữa, dài 137,5cm, đường kính 2,5cm; 01 (một) gậy kim loại hình trụ tròn, rỗng giữa, dài 119cm, đường kính 2,5cm; 01 (một) gậy kim loại hình trụ tròn, rỗng giữa, dài 131cm, đường kính 2,5cm hiện đang tạm giữ tại kho vật chứng của Công an huyện L được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn để giải quyết theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Đàm Văn N đã thỏa thuận bồi thường cho các cháu Đồng Việt A, Leo Ngọc T15, Diệp Long N5, mỗi cháu 5.000.000 đồng; bồi thường cho cháu Bùi Quang A1 số tiền 10.000.000 đồng, các cháu Việt A, T15, N5, Việt A nhận đủ tiền và không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Các cháu Triệu Văn Đ2, Nguyễn Trọng T9 không có yêu cầu đề nghị bồi thường gì.
Từ những nội dung trên, bản Cáo trạng số 42/CT-VKS-HS ngày 01 tháng 03 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố các bị cáo Nguyễn Tất T, Hoàng Thế D, Lý Văn N1, Phạm Đức T2, Trần Hữu P, Nguyễn Ngọc T4, Đàm Văn N, Ngô Thế P1, Nguyễn Hữu Đ về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo Hoàng Văn C1, Phạm Văn P2, Nguyễn Ngọc V1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại Khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Người đại diện cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người này tại phiên tòa và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tất T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/11/2023.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Thế D từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án được trù thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/11/2023 đến ngày 14/11/2023.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17; Điều 55, Điều 56, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt Tại bản án hình sự sơ thẩm số 55/2023/HSST, ngày 11/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xử phạt Nguyễn Hữu Đ 10 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” được trừ thời gian tạm giữ từ kể từ ngày 06/01/2023 đến ngày 8/01/2023 là 02 ngày, quy đổi bằng 6 ngày cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo phải chấp hành 9 tháng 24 ngày cải tạo không giam giữ. Đạo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ từ ngày 20/6/2023. Được trừ thời gian bị cáo đã chấp hành cải tạo không giam giữ từ ngày 20/6/2023 đến 04/11/2023 là 04 tháng 15 ngày tù, bị cáo còn phải chấp hành 05 tháng 09 ngày cải tạo không giam giữ quy đổi bằng 53 ngày tù. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 02 (hai) năm 07 (bẩy) tháng 23 (hai mươi ba) ngày tù đến 02 (hai) năm 10 (mười) tháng 23 (hai mươi ba) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2023.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17; Điều 55, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Thế P1 từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Tổng hợp hình phạt tại bản án hình sự sơ thẩm số 134/2023/HS-ST, ngày 03/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xử phạt Ngô Thế P1 2 năm 6 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ số ngày đã bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 14/11/2023 đến ngày 19/02/2023). Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 5 năm, đến 5 năm 3 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2023 được trừ số ngày đã bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 14/11/2023 đến ngày 19/02/2023).
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đàm Văn N từ 02 (hai) năm 09 (chín) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 65, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Hữu P từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 9 (chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lý Văn N1 từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 4 (bốn) năm 6 (sáu) tháng đến 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 65, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Đức T2 từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 4 (bốn) năm đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 65, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T4 từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C1 09 (chín) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn P2 07 (bẩy) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ khoản 1 Điều 318, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 91, Điều 100 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc V1 04 (bốn) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Giao bị cáo Nguyễn Ngọc V1 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Ngọc V1.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe EXCITER, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát: 98B3-840.21, 01 (một) đăng ký xe một tô, xe máy số 98 009473, biển số xe 98B3-840.21 mang tên Hoàng Văn C1 và 01(một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Winner X, màu sơn đen vàng xám, biển kiểm soát xe:98E1-814.97,01 (một) đăng ký xe mô tô, xe máy số 98 009317, biển số xe: 98E1- 814.97 mang tên Phạm Văn P2.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gậy kim loại hình trụ tròn, rỗng giữa, dài 137,5cm, đường kính 2,5cm; 01 (một) gậy kim loại hình trụ tròn, rỗng giữa, dài 119cm, đường kính 2,5cm; 01 (một) gậy kim loại hình trụ tròn, rỗng giữa, dài 131cm, đường kính 2,5cm.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Hoàng Thế D, Lý Văn N1, Phạm Đức T2, Trần Hữu P, Nguyễn Ngọc T4, Đàm Văn N, Ngô Thế P1, Nguyễn Hữu Đ, Hoàng Văn C1, Phạm Văn P2, Nguyễn Ngọc V1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Tất T.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Đức Nhường |
Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 71/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: b
