|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 71/2024/HS-ST Ngày: 10 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Dương Thị Sáu
Ông Trần Văn Tươi
- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 71/2024/HSST ngày 24 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Lâm Quốc C; Tên gọi khác: không; sinh năm 14/11/1987, tại Long An; Nơi cư trú: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An.; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; con ông Phạm Văn H và bà Lâm Thị Thủy T; vợ Nguyễn Thị Thanh N và có 01 con; tiền sự: Không; tiền án: 02
- Tại Bản án số 44/2020/HSST ngày 01/7/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, Long An xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 17/8/2021, chưa xoá án tích.
- Tại Bản án số 15/2023/HSST ngày 31/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An xử phạt Phạm Lâm Quốc C 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tài sản trộm trị giá 1.500.000₫), đến ngày 17/02/2024 chấp hành xong hình phạt tù, chưa xóa án tích.
Nhân thân:
- Tại Bản án số 11/2009/HSST ngày 16/01/2009 của Tòa án nhân dân thị xã Tân An, Long An xử phạt 03 tháng 07 ngày tù về tội “Hủy hoại tài sản”, trả tự do tại phiên toà, đã xoá án tích.
- Tại Bản án số 16/2012/HSST ngày 22/3/2012 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, Long An xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 13/01/2013, đã xoá án tích.
- Tại Quyết định số 188/QĐ-XPHC ngày 20/12/2019 của Công an P, thành phố T, Long An xử phạt 1.500.000đ về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã nộp phạt năm 2020.
- Tại Quyết định số 06/QĐ-UBND ngày 04/7/2019 của UBND xã B, huyện T, Long An áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi “sử dụng trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong ngày 04/10/2019.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/3/2024 đến ngày 26/3/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an huyện B (có mặt)
- Bị hại: Trần Thị Kim C1, sinh năm 1990 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp A, xã N, huyện B, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Phạm Lâm Quốc C2, sinh năm 1990 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An.
2. Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1989 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 21/3/2024, Phạm Lâm Quốc C điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha Luvias biển số 62G1-111.25 màu xanh-trắng đi một mình từ nhà ở ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An đến khu vực xã N, huyện B, tỉnh Long An để tìm tài sản lấy trộm đem bán lấy tiền tiêu xài. Khi C đến khu vực phía sau chợ N1, địa chỉ: Ấp A, xã N, huyện B thì thấy xe môtô loại Honda Wave RSX màu đen-xanh, biển số 62N1-602.69 của chị Trần Thị Kim C1 có cắm chìa khóa đậu trước nhà người dân không người trông coi nên C nảy sinh ý định lấy trộm xe 62N1-602.69. C chạy xe 62G1-111.25 vào trong lồng chợ N1 rồi đậu xe trên lối đi, khóa cổ xe rồi đi bộ quay lại lấy trộm xe 62N1-602.69, mở khóa nổ máy xe chạy về nhà cất giấu. Đến khoảng 19 giờ cùng
ngày, C quay lại chợ N1 lấy xe mô tô biển số 62G1-111.25 thì bị Cơ quan Công an mời về Trụ sở làm việc thì C khai nhận toàn bộ hành vi trộm xe 62N1-602.69.
Trong quá trình điều tra, CQĐT tạm giữ:
- 01 xe môtô loại Honda Wave RSX màu đen xanh, biển số 62N1-602.69 thuộc sở hữu của chị Trần Thị Kim C1, hiện Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trả lại xe cho chị C1.
- 01 xe môtô loại Yamaha Luvias màu xanh trắng, biển số 62G1-111.25 thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị Thúy L, việc C sử dụng xe của chị L đi trộm tài sản thì chị L không biết, hiện Cơ quan CSĐT Công an huyện B trả lại xe cho chị L.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐG, ngày 25/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B định giá và kết luận: 01 xe môtô loại Honda Wave RSX màu đen xanh, biển số 62N1-602.69 có giá là 12.500.000₫.
Tại bản Cáo trạng số 71/CT-VKSBL ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố bị cáo Phạm Lâm Quốc C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Lâm Quốc C hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phạm Lâm Quốc C phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Lâm Quốc C mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Lâm Quốc C.
Xe mô tô biển số 62G1-111.25 thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị Thúy L, chị L cho Phạm Lâm Quốc C2 (em ruột của Phạm Lâm Quốc C) sử dụng đi lại, C mượn xe trên để đi lại, không biết việc C sử dụng để đi trộm, nên CQĐT không xem xét xử lý là phù hợp nên không đề nghị xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 xe môtô loại Honda Wave RSX màu đen xanh, biển số 62N1-602.69 thuộc sở hữu của chị Trần Thị Kim C1, hiện Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trả lại xe cho chị C1 nên không đề nghị xem xét.
- 01 xe môtô loại Yamaha Luvias màu xanh trắng, biển số 62G1-111.25 thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị Thúy L, việc C sử dụng xe của chị L đi trộm tài sản thì chị L không biết, hiện Cơ quan CSĐT Công an huyện B trả lại xe cho chị L nên không đề nghị xem xét.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại chị Trần Thị Kim C1 đã nhận lại xe 62N1-602.69 nên không yêu cầu bồi thường dân sự.
Về án phí:
Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Lâm Quốc C chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng của bị cáo:
Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Lâm Quốc C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra, phù hợp với bản ảnh hiện trường và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:
Bị cáo Phạm Lâm Quốc C do chây lười lao động muốn có tiền tiêu xài cá nhân không phải bỏ sức lao động nên khoảng 13 giờ ngày 21/3/2024, bị cáo Phạm Lâm Quốc C điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha Luvias biển số 62G1-111.25 màu xanh trắng đến khu vực chợ N1, địa chỉ: Ấp A, xã N, huyện B đậu xe trong lồng chợ, sau đó lén lút lấy trộm xe 62N1-602.69 có giá trị 12.500.000đ của chị Trần Thị Kim C1 đang dựng trong chợ rồi chạy về nhà tại huyện T cất giấu. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, bị cáo C quay lại chợ N1 lấy xe 62G1-111.25 thì bị Cơ quan Công an mời về trụ sở làm việc và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Hành vi của bị cáo Phạm Lâm Quốc C đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố bị cáo Phạm Lâm Quốc C về tội danh và điều luật là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
Hành vi trái pháp luật của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo Phạm Lâm Quốc C vẫn bất chấp thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
Do đó, hành vi của bị cáo Phạm Lâm Quốc C cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án phù hợp, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[3]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phạm Lâm Quốc C có 02 tiền án chưa được xoá án tích mà tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý thuộc trường hợp tái phạm quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Phạm Lâm Quốc C trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
[4]. Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt đối với bị cáo Phạm Lâm Quốc C là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Lâm Quốc C còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có lời trình bày hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 xe môtô loại Honda Wave RSX màu đen xanh, biển số 62N1-602.69 thuộc sở hữu của chị Trần Thị Kim C1, hiện Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trả lại xe cho chị C1 nên không đề cập xem xét.
- 01 xe môtô loại Yamaha Luvias màu xanh trắng, biển số 62G1-111.25 thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị Thúy L, việc C sử dụng xe của chị L đi trộm tài sản thì chị L không biết, hiện Cơ quan CSĐT Công an huyện B trả lại xe cho chị L nên không đề cập xem xét.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Trần Thị Kim C1 đã nhận lại xe 62N1-602.69, không yêu cầu bồi thường dân sự nên không đề cập xem xét.
[8]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Lâm Quốc C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Lâm Quốc C phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phạm Lâm Quốc C 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/3/2024.
- Căn cứ khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Phạm Lâm Quốc C 45 ngày kể từ ngày tuyên án (10/7/2024) để đảm bảo thi hành án.
2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Phạm Lâm Quốc C nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
3. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Kim Thảnh |
Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 71/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Lâm Quốc C phạm tội “Trộm cắp tài sản”
