Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/DS-ST

Ngày: 09 - 09 - 2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Chánh.

Các Hội Thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Trưởng.
  2. Ông Lê Văn Qui.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 09 tháng 09 năm 2024 tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 101/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 171/2024/QĐXXST-DS, ngày 05 tháng 08 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 158/2024/QĐÐST - DS ngày 22 tháng 08 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1.

Địa chỉ: Số B - B, N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Cao Hồng S, Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 – Chi nhánh H.

Người được uỷ quyền lại: Ông Dương Văn M, sinh năm 1978, Chức vụ: Phó phòng Kiểm soát rủi ro – Ngân hàng TMCP S1 – chi nhánh H.

Địa chỉ: Số C, đường C, khu V, phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.

Theo Giấy uỷ quyền số: 10/2024/UQ-CNHG của Ngân hàng TMCP S1 – chi nhánh H, lập ngày 15/03/2024

Bị đơn: Bà Mai Thị Mỹ L, sinh năm: 1989.

Địa chỉ: Ấp T, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm ông Dương Văn M là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP S1 (gọi tắt Ngân hàng) trình bày:

Căn cứ hợp đồng tín dụng số 2851897/2023/HĐTD ngày 15/8/2023 bà Mai Thị Mỹ L có ký với Ngân hàng TMCP S1 Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng căn cứ vào thu nhập của bà L đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), mục đích là tiêu dùng cho cá nhân. Sau khi được cấp thẻ bà L đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 26.100.000 đồng (Hai mươi sáu triệu một trăm nghìn đồng).

Trong quá trình sử dụng thẻ, bà L có thanh toán cho Ngân hàng được 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng), sau đó bà L không có thiện chí trả nợ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ, nên ngày 06/01/2024 Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ số dư nợ sang nợ quá hạn. Số tiền tạm tính đến ngày 12/03/2024 thì bà L còn nợ thẻ tín dụng là 33.481.768 đồng (trong đó: Dư nợ 30.642.442 đồng, lãi quá hạn 2.839.326 đồng).

Nay ông Dương Văn M đại diện cho Ngân hàng TMCP S1 yêu cầu bà L có trách nhiệm thanh toán số tiền 33.481.768 đồng và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh kể từ ngày 13/03/2024 cho đến khi trả tất nợ theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ đã ký.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Mai Thị Mỹ L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không có lý do, nên Tòa án không thể tiến hành ghi lời khai cũng như tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với bị đơn được.

Tại phiên tòa, ông Dương Văn M là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1 có đơn xin xét xử vắng mặt có cung cấp bản kê tính lãi và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu bà L phải trả số tiền vay còn nợ vốn và lãi tạm tính đến ngày xét xử 09/09/2024, tổng cộng là 41.152.186 đồng, (Trong đó dư nợ: 30.642.442 đồng, lãi quá hạn 10.509.744 đồng) Ngân hàng yêu cầu tiếp tục tính lãi suất theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi bà L thanh toán tất nợ.

Tại phiên tòa, bà L đã được Toà án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến trình bày của bà L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá và nhận định về những chứng cứ, những tình tiết của vụ án:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1 khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Mai Thị Mỹ L có nghĩa vụ trả số tiền vay còn nợ theo hợp đồng tín dụng số 2851897/2023/HĐTD ngày 15/8/2023. Đối chiếu với quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 98 Luật Tổ chức tín dụng thì đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được Bộ luật dân sự và Luật các Tổ chức tín dụng điều chỉnh, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Bị đơn bà Mai Thị Mỹ L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa xét xử nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không có lý do. Căn cứ theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn những vẫn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo quy định.

[2]. Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1, Hội đồng xét xử xét thấy rằng:

[2.1]. Giữa Ngân hàng TMCP S1 và bà Mai Thị Mỹ L có ký kết hợp đồng tín dụng số 2851897/2023/HĐTD ngày 15/8/2023 để cấp cho bà L thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, mục đích vay để tiêu dùng cá nhân, theo hợp đồng thì bà L vi phạm hợp đồng về thời gian thanh toán cho Ngân hàng.

[2.2]. Theo nội dung hợp đồng tín dụng thể hiện sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, không trái với quy định của Luật các tổ chức tín dụng và pháp luật khác có liên quan. Bà L đã nhận tiền của Ngân hàng thì phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng đúng theo quy định trong hợp đồng. Việc bà L chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng là làm thiệt thòi quyền lợi của Ngân hàng.

[3]. Xét yêu cầu tính lãi của Ngân hàng thấy rằng: Do bà L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết nên Ngân hàng yêu cầu bà L phải trả dư nợ và lãi theo hợp đồng đã thỏa thuận là phù hợp với quy định.

[4]. Căn cứ theo hợp đồng tính dụng đã ký kết và bản kê tính lãi của Ngân hàng có cơ sở xác định số tiền nợ mà Ngân hàng khởi kiện là phù hợp với quy định tại Điều 91 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

[5]. Từ những phân tích trên xét việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Mai Thị Mỹ L có nghĩa vụ trả số tiền vay dư nợ và lãi tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 09/09/2024 là 41.152.186 đồng là hoàn toàn có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

[6]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Mai Thị Mỹ L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 147 và Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự,

Điều 463; Điều 466 của Bộ luật dân sự 2015,

Điều 91 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1 đối với bị đơn bà Mai Thị Mỹ L.

2. Buộc bị đơn Mai Thị Mỹ L có nghĩa vụ trả số tiền còn nợ cho Ngân hàng TMCP S1 - chi nhánh H số tiền 41.152.186 đồng (Bốn mươi mốt triệu một trăm năm mươi hai nghìn một trăm tám mươi sáu đồng). Trong đó dư nợ là 30.642.442 đồng (Ba mươi triệu sáu trăm bốn mươi hai nghìn bốn trăm bốn mươi hai đồng) và lãi quá hạn là 10.509.744 đồng (Mười triệu năm trăm lẻ chín nghìn bảy trăm bốn mươi bốn đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Toà án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Mai Thị Mỹ L phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.057.609 đồng (Hai triệu không trăm năm mươi bảy nghìn sáu trăm lẻ chín đồng). Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 837.000 đồng (Tám trăm ba mươi bảy ngàn đồng) theo lai thu số 0007791 phiếu lập ngày 26/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại

phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bán án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND thị xã Long Mỹ;
  • - Chi cục THADS thị xã Long Mỹ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Minh Chánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/DS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 71/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ hợp đồng tín dụng số 2851897/2023/HĐTD ngày 15/8/2023 bà Mai Thị Mỹ L có ký với Ngân hàng TMCP S1 Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng căn cứ vào thu nhập của bà L đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), mục đích là tiêu dùng cho cá nhân. Sau khi được cấp thẻ bà L đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 26.100.000 đồng (Hai mươi sáu triệu một trăm nghìn đồng).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger