Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NAM ĐỊNH


Bản án số: 71/2024/HS-ST

Ngày: 09-8-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Công

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Đức Nguyên

Ông Phạm Quốc Khánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lan Anh - Thư ký của Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoà - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với:

Bị cáo: Trần Anh D, sinh ngày 24 tháng 8 năm 1990 tại Nam Định; nơi đăng ký thường trú: Số F T, phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi ở: Số I đường N, phường P, thành phố N, tỉnh Nam Định. nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T, sinh năm 1963 và bà Phạm Thị Thu H, sinh năm 1970; có vợ là Nguyễn Thị O và có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28 tháng 12 năm 2023, sau đó chuyển tạm giam.. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Ngô Duy Đ - Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh N. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Thu H, sinh năm 1970, trú tại F đường T, phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 28 tháng 12 năm 2023, tổ công tác Đội hình sự, kinh tế, ma tuý Công an huyện N phối hợp với Đội Cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ tại tỉnh lộ 490C thuộc thôn Q, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định kiểm tra xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Accent màu trắng BKS 18A-39335 do Trần Anh D, sinh năm 1990 điều khiển. Kiểm tra xe ô tô phát hiện: Tại vị trí hốc cánh cửa xe cạnh ghế lái có 01 phong bì thư bên trong đựng 01 túi nilong màu trắng kích thước 4x7,5cm, bên trong có 03 viên nén màu xanh, hình dạng không xác định (niêm phong kí hiệu M) và 02 túi nilong nhỏ màu trắng, bên trong mỗi túi đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (niêm phong kí hiệu M1). D khai đó là 03 viên thuốc lắc và 01 chỉ Ketamine của D, D mang đi bán cho khách nhưng chưa kịp bán thì phát hiện.

Ngoài ra, Trần Anh D còn khai nhận và tự giác đến gầm ghế lái trongxe ô tô lấy 01 hộp vải màu đen giao nộp cho Cơ quan Công an, bên trong có 05 túi nilong gồm: 01 túi nilong màu trắng kích thước 10x15cm, bên trong có 03 túi nilong màu trắng kích thước 4x7,5cm, mỗi túi chứa 10 viên nén màu xanh, hình dạng không xác định và 01 túi nilong màu trắng kích thước 8,5x13cm bên trong có 04 túi nilong màu trắng kích thước 4x7,5cm, mỗi túi chứa 10 viên nén màu xanh, hình dạng không xác định (tổng cộng là 70 viên nén màu xanh, niêm phong kí hiệu K); 01 túi nilong màu trắng kích thước 8,5x13cm bên trong có 16 túi nilong màu trắng, mỗi túi đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 01 túi nilong màu trắng kích thước 10x15cm, bên trong chứa 05 túi nilong màu trắng kích thước 4x7,5cm, bên trong mỗi túi đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (niêm phong kí hiệu K1); 01 túi nilong màu trắng kích thước 8,5x13cm chứa 04 túi nilong màu cam kích thước 6x6cm, bên ngoài in nhiều chữ nước ngoài, không xác định được chất chứa bên trong (niêm phong kí hiệu K2). D khai nhận toàn bộ số mẫu vật thu giữ K, K1, K2 đều là ma tuý của D, D mang theo mục đích khi nào có khách hỏi mua sẽ giao cho khách. Tổ công tác mời người chứng kiến, đưa D về trụ sở Công an huyện N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Anh D.

Quá trình điều tra đã thu giữ gồm:

  • - Số ma túy;
  • - Thu giữ của D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng đã cũ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen đã cũ,
  • - Số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)
  • - 01 (một) hộp vải màu đen kích thước 12x18 cm.
  • - 60 (sáu mươi) phong bì thư bưu điện.
  • - 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Trần Anh D.
  • - 01 (một) ô tô nhãn hiệu Accent màu trắng BKS: 18A-393.35 đã cũ.
  • - 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS: 18A-393.35 tên Phạm Thị Thu H.

Trưng cầu giám định chất ma túy đối với các mẫu vật nghi là ma tuý niêm phong ký hiệu M, M1, K, K1, K2 và thành phần chất ma túy trong nước tiểu của D tại phòng K3 Công an tỉnh N.

Tại bản kết luận giám định số 184/KL-KTHS ngày 03 tháng 01 năm 2024, xác định: Mẫu gồm các viên nén màu xanh niêm phong ký hiệu M và K gửi giám định đều là ma tuý. Loại ma tuý MDMA. Tổng khối lượng mẫu M là: 1,207 gam, tổng khối lượng mẫu K là: 28,048 gam; Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong mẫu niêm phong ký hiệu M1 và K1 gửi giám định đều là ma tuý. Loại ma tuý: Ketamine. Tổng khối lượng mẫu M1 là 1,161 gam, tổng khối lượng mẫu K1: 34,278 gam; Mẫu bột màu vàng trong niêm phong ký hiệu K2 gửi giám định đều là ma tuý, gồm các loại ma tuý: Methamphetamine, MDMA và Nimetazepam. Tổng khối lượng mẫu K2: 6,917 gam.

Tại bản kết luận giám định số 185/KL-KTHS ngày 03 tháng 01 năm 2024 xác định: Không tìm thấy thành phần các chất ma tuý thường gặp theo danh mục các chất ma tuý do Chính phủ ban hành trong mẫu nước tiểu thu giữ của D.

Trưng cầu giám định dấu vết đường vân trên vật chứng thu giữ: Tại bản kết luận giám định số 392/KL-KTHS ngày 23 tháng 01 năm 2024 của phòng K3 Công an tỉnh N kết luận: Phát hiện 01 (một) dấu vết đường vân tương ứng trên ô «Trỏ trái» của Trần Anh D là cùng một người.

Cơ quan điều tra trưng cầu giám định dữ liệu điện tử đối với các máy điện thoại thu giữ của D thấy có tin nhắn giữa D với người tên D1, nội dung thể hiện rõ số lượng từng loại ma tuý, địa điểm và số điện thoại của từng lần. Kiểm tra trong tin nhắn thể hiện D đã giao 17 viên, 11, 5 chỉ và 03 gói 1/4. Đối với số ma túy đã giao này D khai: Đây là số ma túy mà D đã giao thành công cho khách theo chỉ đạo của D1, 17 viên là 17 viên thuốc lắc, 11,5 chỉ tức là 11,5 chỉ Ketamine còn gói 03 gói ¼ D đã giao hết, khi bắt quả tang không còn gói nào. Khi nhận ma túy về D không cân, không đếm nên không biết có bao nhiêu viên, bao nhiêu gói hoặc mỗi gói, mỗi viên là bao nhiêu nhưng mỗi viên, mỗi chỉ (01 chỉ tương đương 02 gói) là tương tự như số ma túy Công an thu giữ ở phong bì thư tại hốc cánh cửa xe ô tô khi bắt quả tang ký hiệu M, M1). Do vậy, căn cứ kết luận giám định xác định khối lượng mỗi viên thuốc lắc là 0,402 gam MDMA x 17 viên = 6,834 gam MDMA; 01 chỉ Ketamin có khối lượng 1,161 gam x 11,5 chỉ = 13,351 gam Ketamin và 09 số điện thoại mà D1 gửi chính là số D liên lạc để giao ma túy.

Tra cứu thông tin thuê bao các số điện thoại này và đấu tranh với những người đứng tên, sử dụng các số điện thoại trong tin nhắn thì có 01 người khai đã mua ma tuý nhưng đã sử dụng hết; 01 người hỏi mua ma tuý của K nhưng K trả lời đã nghỉ nên không mua được; còn lại các trường hợp khác khai không mua, không nhận ma tuý, khi họ đi chơi đã có người lạ gặp ở đường, ở quán hỏi mượn điện thoại gọi nhờ sau đó thì trả lại, họ không quen biết ai là D1, K, D.

Căn cứ tài liệu điều tra có đủ cơ sở xác định trước khi bị bắt quả tang Trần Anh D đã mang ma tuý đi giao thành công cho khách với tổng số 6,834 gam MDMA và 13,351 gam Ketamin. Do vậy, Trần Anh D phải chịu trách nhiệm với tổng khối lượng ma túy là 36,089 gam MDMA; 48,790 gam Ketamine và 6,917 gam Methamphetamin, MDMA, Nimetazepam.

Cáo trạng số 47/CTr-VKSNĐ-P1 ngày 05 tháng 7 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Trần Anh D khai nhận: D là lái xe taxi, trong quá trình chở khách D biết một người đàn ông tên D1 (D không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của D1), D1 sử dụng số điện thoại 0916.425.xxx, lưu trong máy điện thoại là D1, D1 thường đi xe taxi của D từ Nam Định lên Hà Nội, trên đường đi D thấy D1 thường nói chuyện trao đổi điện thoại về mua bán ma tuý nên D hỏi “Anh có việc gì cho em làm thêm với”. Sáng ngày 25 thánh 12 năm 2023, D1 gọi cho D theo số điện thoại đã gọi taxi từ trước bảo D đi giao ma tuý cho khách của D1, mỗi chuyến giao ma tuý cho khách trong T công từ 150.000 đồng đến 200.000 đồng, ngoài thành phố là 400.000 đồng, tiền công sẽ được tính trả theo tuần. D đồng ý. Tối ngày 25 ngày 12 tháng 2023, theo chỉ đạo của D1 thì D đến khu vực gầm cầu Đ, thành phố N gặp một người thanh niên không quen biết, đeo khẩu trang đưa cho D một hộp vải màu đen rồi bỏ đi. D mang về nhà mở ra kiểm tra thì đồng thời D1 gọi điện nói cho D biết bên trong hộp vải màu đen là ma tuý gồm thuốc lắc là các viên nén không rõ hình dạng màu xanh; Ketamine đã được chia sẵn thành các gói và các túi nước vui. Khách mua ma tuý sẽ liên hệ trực tiếp trao đổi với D1, sau khi thống nhất thì D1 sẽ nhắn tin cho D số lượng, loại ma tuý, địa điểm và số điện thoại của người nhận ma túy để D đi giao cho khách theo viên, gói hoặc chỉ (mỗi chỉ K1 là 02 gói như mẫu M1 khi bắt quả tang), D nhất trí và mang cất giấu số ma tuý dưới gầm ghế lái xe ô tô. Với cách thức thống nhất như trên, tính đến khi bị bắt D đã giao ma tuý thành công cho khách của D1 khoảng hơn 10 lần, D chưa được nhận tiền công của D1. Chiều tối ngày 28 tháng 12 năm 2023, D1 tiếp tục bảo D mang 03 viên thuốc lắc, 01 chỉ Ketamine xuống khu vực thôn Q, xã N, huyện N để giao cho khách nhưng chưa giao kịp thì đã bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt giữ. Trần Duy K2 (em trai D) không liên quan đến số ma tuý thu giữ của D, K2 dùng số điện thoại được lưu trong máy tên là K2.

Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào điểm h khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo từ 15 nămđến 16 năm tù.Phạt tiền đối với bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Căn cứ Điều 106 của Bộ Luật tố tụng Hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự: tịch thu tiêu huỷ 01 túi niêm phong mặt trước có ghi số 184/KL-KTHS(M,M1,K,K1,K2) bên trong đựng toàn bộ số ma tuý là vật chứng của vụ án; 01 túi niêm phong có số PS2/2127826 bên trong chứa mẫu giám định đường vân; 60 phong bì thư bưu điện; 01 hộp vải màu đen kích thước 12x18cm. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động bị cáo sử dụng để liên lạc bán ma tuý và 2.000.000 đồng. Trả lại cho bà Phạm Thị Thu H 01 ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent biển kiểm soát 18A-393.35 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Phạm Thị Thu H; trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Trần Anh D và 01 điện thoại bị cáo không sử dụng vào việc mua bán ma tuý.

Người bào chữa nhất trí với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Dó đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ vật chứng;bản kết luận giám định chất ma túy; trích xuất dữ liệu điện tử từ điện thoại của bị cáo; lời khai của người chứng kiến cũng như toàn bộ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Từ các tình tiết, chứng cứ nêu trên đủ cơ sở kết luận:Ngày 28 tháng 12 năm 2023, Trần Anh D mang 1,207 gam MDMA và 1,161 gam Ketamine mục đích để bán cho khách nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt quả tang tại thôn Q, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Đồng thời còn cất giấu 28,048 gam MDMA; 34,278 gam Ketamine; 6,917 gam Methamphetamin, MDMA, Nimetazepam nhằm mục đích để giao cho khách mua, đã bị phát hiện thu giữ.Ngoài ra, căn cứ tài liệu điều tra có đủ cơ sở xác định trước khi bị bắt quả tang Trần Anh D đã mang ma tuý đi giao thành công cho khách với tổng số 6,834 gam MDMA và 13,351 gam Ketamin. Do vậy, Trần Anh D phải chịu trách nhiệm với tổng khối lượng ma túy là 36,089 gam MDMA; 48,790 gam Ketamine và 6,917 gam Methamphetamin, MDMA, Nimetazepam. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Ma túy không chỉ đơn thuần là chất gây nghiện mà còn là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác, làm lây truyền bệnh tật, ma tuý đang là hiểm họa của nhân loại bị xã hội lên án và loại trừ. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể được Luật hình sự bảo vệ, đó là quyền quản lý độc quyền về các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc mua bán trái phép chất ma tuý bị pháp luật cấm nhưng do hám lợi, coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù giam tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Anh D đã nhiều lần bán trái phép chất ma tuý nên phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội 2 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.Tại phiên tòa,bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.Bị cáo có ông nội là Liệt sỹ nên áp dụng khoản 2 Điều 52 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nhắm mục đích kiềm lời do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Xử lý vật chứng: 01 túi niêm phong mặt trước có ghi số 184/KL-KTHS(M,M1,K,K1,K2) bên trong đựng toàn bộ số ma tuý là vật chứng của vụ án là vật cấm tàng trữ, lưu hành; 01 túi niêm phong có số PS2/2127826 bên trong chứa mẫu giám định đường vân; 60 phong bì thư bưu điện; 01 hộp vải màu đen kích thước 12x18cm đều không có giá trị, căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.Đối với01 điện thoại di động Iphone X và 01 điện thoại di động Iphone XI là phương tiện bị cáo liên lạc với người muama tuý và đối tượng theo bị cáo khai là thuê bị cáo đi giao ma tuý; 2.000.000 đồng là tiền bị cáo bán ma tuý mà có, căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự tịch thu sung ngân sách nhà nước. 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Phạm Thị Thu H và 01 (một) ô tô nhãn hiệu Accent màu trắng BKS: 18A-393.35 đã cũ. Chiếc xe ô tô, chủ đăng ký xe là của bà Phạm Thị Thu H, sinh năm 1970, trú tại F đường T, phường B, thành phố N (mẹ đẻ D), bà H mới mua xe ô tô được hơn 10 ngày, bà H cho D mượn chiếc xe để làm phương tiện chở khách kiếm thu nhập thêm, bà H không liên quan đến hành vi phạm tội của D, bà không biết D đã sử dụng chiếc xe ô tô để đi giao ma tuý. Chiếc xe không trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng, bà H có đơn được xin lại chiếc xe trên,căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự trả lại cho bà H. Trả lại cho bị cáo trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Trần Anh D.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Anh D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo Trần Anh D 15 năm (mười lăm năm) tù, thời hạn tù tính từ ngày 28 tháng 12 năm 2023. Phạt tiền bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
  3. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự: tịch thu tiêu huỷ 01 túi niêm phong mặt trước có ghi số 184/KL-KTHS(M,M1,K,K1,K2) bên trong đựng toàn bộ số ma tuý là vật chứng của vụ án; 01 túi niêm phong có số PS2/2127826 bên trong chứa mẫu giám định đường vân; 60 phong bì thư bưu điện; 01 hộp vải màu đen kích thước 12x18cm. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone X; 01 điện thoại di động Iphone XI và 2.000.000 đồng. Trả lại cho bà Phạm Thị Thu H 01 ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent biển kiểm soát 18A-393.35 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Phạm Thị Thu H. Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Trần Anh D. Vật chứng có đặc điểm nhưBiên bản giaonhận vật chứng, tài sản giữa Công an tỉnh N và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nam Định ngày 09/7/2024.
  4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Anh D, bà Phạm Thị Thu H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định Điều 7, Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND tỉnh Nam Định
  • - Công an tỉnh Nam Định;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định;
  • - Toà án cấp cao;
  • - Cục Thi hành án DS tỉnh Nam Định;
  • - UBND phường Bà Triệu,
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thành Công

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Đức Nguyên Phạm Quốc Khánh

Nguyễn Thành Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 71/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger