Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂNCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH HƯNG YÊNĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 71/2024/HS-ST
Ngày: 09-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Ngọc Lâm;

Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Phương;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Viết Thủy;
  2. Ông Lương Ngọc Vượng;
  3. Bà Trần Thị Lan Hương;

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Toà án;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Hưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/HSST ngày 22/5/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HS ngày 14/6/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trịnh Văn D, sinh năm 1989 tại huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Giới tính: Nam; STQ: thôn B, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trịnh Văn T và bà Nguyễn Thị T1; Có vợ là Kiều Thị T2, sinh năm 1990; Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/9/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam công an tỉnh H (có mặt tại phiên toà).

Người bào chữa cho bị cáo D: Luật sư Nguyễn Văn P - Công ty L, Đoàn luật sư tỉnh H (có mặt tại phiên toà).

*Những người bị hại:

  1. Anh: Đặng Bảo Q, sinh năm 1987 (có mặt).
  2. Trú tại: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

  3. Anh Hoàng Văn K, sinh năm 1982 (có mặt) và chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1982 (vắng mặt); HKTT: thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Nơi ở: thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

*Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Lưu Huy H, sinh năm 1995 (có mặt).
  2. Trú tại: thôn D, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên;

  3. Anh Nguyễn Trung H1, sinh năm 2001;
  4. Trú tại: thôn D, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên;

  5. Bà Đinh Thị Đ, sinh năm 1958 và chị Hoàng Thị Phương A, sinh năm 1984; Cùng làm việc tại Văn phòng C1, địa chỉ: xã N, huyện Y, tỉnh Hưng Yên;
  6. (Đều vắng mặt).

*Những người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1989;
  2. Trú tại: thôn T, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

  3. Anh Phạm Văn B, sinh năm 1996;
  4. Trú tại: thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

  5. Chị Kiều Thị T4, sinh năm 1998;
  6. Trú tại: thôn D, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên;

  7. Anh Đào Đình H2, sinh năm 1983;
  8. Trú tại: thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên;

    (Đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Văn D, sinh năm 1989, nơi thường trú: thôn B, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên là đối tượng không có công việc làm ổn định. Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên D nảy sinh ý định thuê xe ô tô tự lái rồi mang đi bán lấy tiền. Trưa ngày 12/4/2023, D điện thoại liên lạc với anh Đặng Bảo Q, sinh năm 1987, trú tại: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên hỏi thuê chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, màu đen, BKS: 89A-141.42 của anh Q trong thời gian 10 ngày kể từ ngày 12/4/2023 với giá thuê là 800.000 đồng/ngày, tổng số tiền thuê là 8.000.000 đồng. Anh Q đồng ý và hẹn D đến xóm B thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên thì D nói “Em đang ở G, thôn T, xã T rồi”. Lúc này, xe của anh Q đang để ở khu vực G, thôn T nên anh Q đi bộ ra gặp D đồng thời giao cho D: Chìa khóa xe, xe ô tô BKS 89A-141.42 cùng bản gốc giấy đăng ký xe ô tô; 01 giấy chứng nhận đăng kiểm; 01 giấy bảo hiểm của xe ô tô BKS: 89A-141.42 mang tên Đặng Bảo Q.

Sau khi thuê được xe ô tô của anh Q, ngày 13/4/2023 (không nhớ cụ thể buổi sáng hay chiều) D gọi điện thoại liên lạc với anh Nguyễn Trung H1, sinh năm 2001, trú tại: thôn D, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên đặt vấn đề bán chiếc xe ô tô trên cho anh H1. Cả hai hẹn nhau đến khu vực ngã tư đèn xanh, đèn đỏ xã D, huyện K gặp mặt và thỏa thuận việc mua bán. Anh H1 hỏi về nguồn gốc xe thì D tự nhận là xe ô tô của D rồi đưa giấy tờ xe cho anh H1 xem. Anh H1 dẫn D đến nhà anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1989, trú tại: thôn T, xã D, huyện K (là bạn của anh H1) và thỏa thuận mua chiếc xe ô tô trên của D với giá 150.000.000 đồng. Sau khi anh H1 trả tiền, D đã viết 01 giấy mượn ba năm cũ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 01 chìa khóa xe cùng giấy tờ của liên quan của xe mà trước đó D đã nhận từ anh Q.

2

Sau khi mua xe của D, khoảng tháng 5/2023 anh H1 đã bán chiếc xe trên cho một người nam giới không rõ tên, tuổi, địa chỉ với giá 1.500.000 đồng tại tỉnh Vĩnh Phúc. Anh H1 đã nộp cho Cơ quan điều tra số 1.500.000 đồng tiền lãi do bán xe ô tô. Ngày 11/5/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện Y đã ra Quyết định truy tìm vật chứng đối với xe ô tô trên nhưng đến nay chưa có kết quả.

Đến hạn, anh Q yêu cầu D trả lại chiếc xe ô tô trên nhưng D không trả và thông tin cho anh Q về việc đã cầm cố chiếc xe ô tô trên cho anh H1 lấy tiền chi tiêu cá nhân nhưng hiện nay không có tiền để trả xe ô tô về cho anh Q. Ngày 10/5/2023, anh Q có đơn tố giác hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của D gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

Quá trình điều tra, D xác định bán chiếc xe ô tô trên cho anh H1 mà chỉ cầm cố để vay anh H1 số tiền 150.000.000 đồng với mức lãi suất là 2.500 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày dưới hình thức viết giấy bán xe. Tuy nhiên, cả anh H1 và anh T3 đều xác định việc D thỏa thuận và viết giấy bán xe ô tô cho anh H1, không có việc anh H1 cầm cố xe ô tô cho D vay tiền. Do đó, lời khai của D về việc cầm cố xe để vay tiền anh H1 là không có cơ sở.

Cơ quan điều tra đã quản lý được 06 bản chụp chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, sơn màu đen, BKS: 89A-141.42, giấy đăng ký, đăng kiểm xe ô tô (đều là bản photo) do anh Đặng Bảo Q giao nộp.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 30/KL- ĐG ngày 06/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y, tỉnh Hưng Yên kết luận: Xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, sơn màu đen, BKS: 89A-141.42, số máy G4LCJD139171, số khung RLU441BBJN003958 có giá trị: 355.000.000 đồng.

Tiếp đó, vào khoảng cuối tháng 6/2023, mặc dù không sở hữu thửa đất số: 145, tờ bản đồ số 08, diện tích 100m² tại thôn B, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên nhưng để có tiền tiêu xài cá nhân, thông qua mạng xã hội Zalo, D đã thuê một đối tượng không biết tên, tuổi, địa chỉ, không nhớ tên tài khoản làm một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) mang tên Trịnh Văn D với thửa đất trên với giá 8.000.000 đồng. Sau đó nhờ Phạm Văn B, sinh năm 1996, trú tại: thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên (là bạn D) giới thiệu người mua đất để D bán lấy tiền. Khoảng đầu tháng 8/2023, B dẫn D đến cửa hàng bán decal xe máy của anh Lưu Huy H, sinh năm 1995 mở tại chợ thôn B, xã Y, huyện Y (anh H có đăng ký HKTT: thôn D, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên) để trao đổi bán đất. Tại đây, D nói với anh H là D cần tiền nên muốn bán thửa đất đã có GCNQSDĐ với giá rẻ. Anh H đồng ý, D đã gọi điện thông tin cho bạn là anh Hoàng Văn K, sinh năm 1982, HKTT: thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên biết. Anh K đồng ý mua thửa đất trên với giá 500.000.000 đồng.

3

Ngày 11/8/2023, anh H dẫn D và B đến nhà anh K ở thôn L, xã Y, huyện Y để thỏa thuận việc bán đất. Anh K nhờ cộng chứng viên của văn phòng C1 là chị Hoàng Thị Phương A1, chị Đinh Thị Đ đến làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hoàn thiện thủ tục chứng cho việc mua bán. Tại đây, D đưa các bản là bản gốc gồm: Căn cước công dân của D, GCNQSDĐ mà D làm giả và tờ xác nhận thông tin cư trú của D. Quá trình giao dịch, D không nói cho mọi người biết GCNQSDĐ là giả. Anh K sử dụng tài khoản số 24420555850 mở tại Ngân hàng A2 chuyển số tiền 446.000.000 đồng đến số tài khoản 6789198956789 mở tại Ngân hàng M mang tên Trịnh Văn D, đồng thời trả 1.000.000 đồng phí công chứng cho chị Phương A1. Sau đó, theo yêu cầu của anh H, anh K đã chuyển tiếp qua tài khoản Ngân hàng cho D số tiền còn lại 54.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, D đã sử dụng tài khoản số 6789198956789 mở tại Ngân hàng M của mình chuyển đến số tài khoản 0848684999 mở tại Ngân hàng T5 chuyển cho H thông qua tài khoản của chị Kiều Thị T4, sinh năm 1998, trú tại: thôn D, xã D, huyện K (là vợ của anh H) số tiền 54.500.000 đồng, bao gồm 40.000.000 đồng là tiền anh H môi giới bán đất hộ D và 14.500.000 đồng là tiền anh H bán điện thoại cho D.

Ngày 16/8/2023, anh K mang hợp đồng chuyển nhượng đến Văn phòng Đ1 làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất và sử dụng GCNQSDĐ giả để thực hiện hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng khác do yêu cầu thành lập Tổ công tác - Công an huyện Y tố giác hành vi trả đạo chiếm đoạt tài sản của D. Ngày 20/9/2023, Trịnh Văn D đã đến Cơ quan Cảnh sát điều - Công an huyện Y để đầu thú và thành khẩn nhận hành vi phạm tội.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã quản lý được: 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất mang tên Trịnh Văn D số DH 927154 đề ngày 16/8/2023 do Sở tài nguyên - môi trường tỉnh H cấp và một số giấy tờ, tài liệu liên quan đến việc thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 145, tờ bản đồ số 08, diện tích 100m² tại thôn B, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên do anh Hoàng Văn K giao nộp.

Tại Bản kết luận giám định số: 02/KL-KTHS ngày 18/9/2023 của Phòng K2 - Công an tỉnh H, kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số: DH 927254 (ký hiệu A1) là giả, không phải do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp.

Đối với 01 điện thoại di động D dùng để liên hệ, giao dịch làm GCNQSDĐ giả, D xác định đã làm rơi mất nên Cơ quan điều tra không quản lý được.

Đối với số tiền 40.000.000 đồng anh H được hưởng hoa hồng từ việc môi giới cho D bán đất cho anh K, anh H đã tự nguyện trả lại cho anh K.

Đối với anh Nguyễn Trung H1 là người mua xe ô tô BKS 89A-141.42 của D, bản thân anh H1 không biết chiếc xe ô tô đó là D lừa đảo chiếm đoạt của anh Q nên không có căn cứ xử lý.

Đối với anh Phạm Văn B và anh Lưu Huy H: quá trình môi giới việc mua bán đất giữa D và anh K, bản thân anh B và anh H không biết GCNQSDĐ mang tên D là giả nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với anh B và anh H.

Đối với đối tượng D thuê làm giả GCNQSDĐ: Do D không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể của đối tượng này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ sẽ xử lý ở vụ án khác.

4

Đối với chị Hoàng Thị Phương A và bà Đinh Thị Đ là Cộng chứng viên văn phòng C1: quá trình công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất liên quan đến GCNQSDĐ số: DH 927154, bản thân chị Phương A và bà Đ không biết GCNQSDĐ trên là giả nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với chị Phương A và bà Đ.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Đặng Bảo Q yêu cầu D phải trả trị giá xe ô tô như định giá là 355.000.000 đồng. Anh Hoàng Quốc K1 yêu cầu bị cáo hoàn lại số tiền mua đất là 460.000.000 đồng.

Bản cáo trạng số: 61/CT-VKS-P3 ngày 20/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Trịnh Văn D về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn D phạm các tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trịnh Văn D từ 13 năm đến 13 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là từ 16 năm đến 17 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 20/9/2023. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho những người bị hại. Cụ thể:

+ Trả anh Hoàng Văn K số tiền 460.000.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi triệu đồng).

+ Trả anh Đặng Bảo Q số tiền 355.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi lăm triệu đồng).

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.

* Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí với nội dung bản Cáo trạng về hành vi phạm tội, các điều, khoản của Bộ luật Hình sự áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, hoàn cảnh gia đình của bị hiện tại rất khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo cải tạo sớm trở về gia đình và hòa nhập cộng đồng.

* Bị cáo Trịnh Văn D: Với mục đích có tiền để chi tiêu cá nhân, bị cáo thừa nhận đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt chiếc xe ôtô của anh Q và số tiền của anh K. Tuy nhiên bị cáo xác định không bán xe cho anh H1 và không bán đất cho anh K mà bị cáo chỉ cầm cố xe và giấy tờ đất giả để lấy tiền tiêu sài cá nhân. Bị cáo không bổ sung nội dung bào chữa của luật sư. Nhất trí với nội dung bản luận tội và không có quan điểm tranh luận với nội dung bản luận tội. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo sớm cải tạo trở về gia đình và hòa nhập cộng đồng.

* Những người bị hại có mặt tại phiên tòa:

+ Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội xét xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc theo quy định của pháp luật.

+ Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường số tiền và giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt.

5

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Bị cáo xác định không bán xe và không dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để bán mà bị cáo chỉ cầm cố để lấy tiền chi tiêu cá nhân. Tuy nhiên, căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như quá trình xét hỏi công khai tại phiên tòa, các chứng cứ đó là: Lời khai của những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng; Các kết luận giám định của Phòng K2 - Công an tỉnh H, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên bị cáo nảy sinh ý định thuê xe ô tô tự lái rồi mang đi bán lấy tiền. Trưa ngày 12/4/2023, bị cáo điện thoại liên lạc với anh Đặng Bảo Q hỏi thuê chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Accent, màu đen, BKS: 89A-141.42 có giá trị: 355.000.000 đồng của anh Q trong thời gian 10 ngày kể từ ngày 12/4/2023 với giá thuê là 800.000 đồng/ngày, tổng số tiền thuê là: 8.000.000 đồng.

Sau khi thuê được xe ô tô của anh Q, ngày 13/4/2023 (không nhớ cụ thể buổi sáng hay chiều) bị cáo gọi điện thoại liên lạc với anh Nguyễn Trung H1 đặt vấn đề bán chiếc xe ô tô trên cho anh H1 với giá 150.000.000 đồng. Sau khi anh H1 trả tiền, bị cáo đã viết 01 giấy bán xe cho anh H1, đồng thời bàn giao cho anh H1 chiếc xe ô tô và 01 chìa khóa xe cùng giấy tờ liên quan của xe mà trước đó D nhận từ anh Q.

6

Tiếp đó, vào khoảng cuối tháng 6/2023, mặc dù không sở hữu thửa đất số: 145, tờ bản đồ số 08, diện tích 100m² tại thôn B, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên nhưng để có tiền tiêu xài cá nhân, thông qua mạng xã hội Zalo, bị cáo đã thuê một đối tượng không biết tên, tuổi, địa chỉ, không nhớ tên tài khoản làm giả một GCNQSDĐ mang tên Trịnh Văn D đối với thửa đất trên với giá 8.000.000 đồng. Sau đó, bị cáo sử dụng GCNQSDĐ giả trên nhờ bạn bè và thông qua môi giới đã bán cho anh Hoàng Văn K thửa đất trên với giá 500.000.000 đồng.

Bị cáo đã thực hiện hành vi gian dối lợi dụng hình thức thuê xe tự lái của anh Đặng Bảo Q, sau khi nhận xe của anh Q trị giá: 355.000.000 đồng bị cáo đã bán để lấy tiền tiêu sài cá nhân. Bên cạnh đó, sau khi có được GCNQSDĐ giả, bị cáo đã sử dụng GCNQSDĐ giả để lừa đảo chiếm đoạt của anh Hoàng Văn K với tổng số tiền: 500.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Hành vi cung cấp các thông tin của cá nhân bị cáo thông qua mạng xã hội Z để làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất và sử dụng GCNQSDĐ giả để thực hiện hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng khác do yêu cầu thành lập Tổ công tác - Công an huyện Y tố giác hành vi trả đạo chiếm đoạt tài sản của D. Ngày 20/9/2023, Trịnh Văn D đã đến Cơ quan Cảnh sát điều - Công an huyện Y để đầu thú và thành khẩn nhận hành vi phạm tội, căn cứ đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước về con dấu, tài liệu. Ngoài ra bị cáo còn dùng thủ đoạn gian dối thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo:

+ Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; sau khi bị phát hiện bị cáo đã tự nguyện đến cơ quan công an đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng thêm quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã hai lần thực hiện hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

+ Về đặc điểm nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, từ trước đến nay chưa có tiền án, tiền sự.

[5]. Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xét thấy:

7

Mặc dù bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo được hưởng ít tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự và phải chịu một tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự, bị cáo chưa khắc phục bồi thường cho người bị hại. Các hành vi phạm tội của bị cáo thuộc các trường hợp nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, bị cáo thực hiện 02 hành vi phạm tội thuộc 02 tội danh khác nhau nên khi quyết định hình phạt cần tuyên phạt bị cáo mức hình phạt chung cho cả hai tội và tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như nội dung đề xuất của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, đảm bảo tính răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với động cơ vụ lợi, lẽ ra phải phạt phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng và còn phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho các bị hại một khoản tiền lớn nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại anh K và anh Q có quan điểm yêu cầu bị cáo có nghĩa vụ trả lại số tiền và giá trị chiếc xe ôtô mà bị cáo đã chiếm đoạt là có căn cứ và phù hợp pháp luật. Cần buộc bị cáo có nghĩa vụ trả cho những người bị hại cụ thể số tiền như sau:

+ Trả cho anh Hoàng Văn K số tiền: 460.000.000 đồng.

+ Trả cho anh Đặng Bảo Q giá trị chiếc xe ô tô Huyndai Accent có gắn BKS 89A-141.42 tương ứng số tiền: 355.000.000 đồng.

+ Đối với số tiền 1.500.000 đồng do anh H1 bán xe mà: anh H1 tự nguyện nộp cho Cơ quan điều tra cần sung ngân sách Nhà nước.

[8]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 GCNQSDĐ do bị cáo làm giả đã bị Cơ quan điều tra thu hồi lưu trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, cần tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 3; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Văn D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự.

8

Xử phạt bị cáo Trịnh Văn D 13 (mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 16 (mười sáu) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 20/9/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo bồi thường trả cho các bị hại số tiền đã chiếm đoạt gồm:

+ Trả vợ chồng anh Hoàng Văn K, chị Nguyễn Thị C số tiền 460.000.000 đồng (bốn trăm sáu mươi triệu đồng).

+ Trả anh Đặng Bảo Q số tiền 355.000.000 đồng (ba trăm năm mươi lăm triệu đồng).

+ Sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành án khoản tiền phải trả trên thì còn phải chịu lãi suất tương ứng với thời gian và số tiền trả theo quy định của pháp luật.

4. Về biện pháp tư pháp:

Lưu tại hồ sơ vụ án đối với 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất.

5. Về án phí: Bị cáo Trịnh Văn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 36.450.000 đồng (Ba mươi sáu triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng là 36.650.000 đồng (ba mươi sáu triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, những người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT - TAND Tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - CQ CSĐT- Công an tỉnh Hưng Yên;
  • - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo (qua TTG)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ngọc Lâm

9

- Bị hại;

- Người có QL&NVLQ;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu VPCQ, Toà hình sự./.

Trần Ngọc Lâm

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 71/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Văn D phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Duy thuê xe oto rồi bán xe, sử dụng GCNQSDĐ giả để lừa bán 500.000.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger