TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 71/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 08 - 8 - 2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Tùng
Ông Nguyễn Văn Sang
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Trương- Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông/Bà Lê Văn Quốc - Kiểm sát viên
Trong ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 80/2024/TLST - HNGĐ, ngày 15 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 246/2024/QĐXXST - HNGĐ, ngày 15 tháng 7 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: - Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1985. Yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Địa chỉ: Khu V L, phường L, quận Ô, TP .
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Thanh N: Luật sư Tô Thị Mộng V - công ty L thuộc Đoàn luật sư thành phố C - Địa chỉ: Số C, đường L, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ. Yêu cầu giải quyết vắng mặt
- Bị đơn: - Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1984. Có mặt
Địa chỉ: C, khu V, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 02 năm 2024 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh N và ông Nguyễn Thành T tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, quận C, thành phố Cần Thơ. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn thường xuyên cự cãi, bất hòa, không hòa hợp trong quan hệ vợ chồng dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc, đã nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Hiện tại bà N và ông T không còn tình cảm vợ chồng, không còn chung sống với nhau. Nay bà N yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thành T.
- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân có 01 con chung tên Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 21 tháng 4 năm 2012, giới tính: Nam. Hiện tại cháu H đang chung sống cùng với ông T. Bà N đồng ý giao cháu Nguyễn Tuấn H cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà N không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu.
Bị đơn ông Nguyễn Thành T trình bày:
- Về hôn nhân: Thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị Thanh N. Tuy nhiên, nguyên nhân mâu thuẫn là do bà N vi phạm chế độ hôn nhân 01 vợ 01 chồng. Bà N chưa ly hôn nhưng lại chung sống như vợ chồng với người khác. Ngày 17 tháng 4 năm 2024 bà N tổ chức lễ cưới với người chồng thứ hai và hiện tại đang chung sống với nhau như vợ chồng. Ông T không đồng ý ly hôn. Ông T đã nộp đơn tố cáo bên công an phường B, quận C, thành phố Cần Thơ và các chứng cứ kèm theo chứng minh bà N chưa ly hôn với ông T mà chung sống như vợ chồng với người khác đã vi phạm luật Hôn nhân và Gia đình. Khi Công an phường B, quận C giải quyết xong đơn tố cáo của ông T. Ông T sẽ ký lý hôn với bà Nguyễn Thị Thanh N.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện:
+ Về hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thành T
+ Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 21 tháng 4 năm 2012 cho ông Nguyễn Thành T trực tiếp nuôi dưỡng.
+ Về cấp dưỡng nuôi con: Bà N không cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Thanh N: Luật sư Tô Thị Mộng V có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Bị đơn ông Nguyễn Thành T không đồng ý ly hôn. Về con chug: đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng cháu H, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Việc thụ lý giải quyết vụ án của Thẩm phán, cũng như của Hội đồng xét xử ngày hôm nay là đúng trình tự thủ tục luật định.
+ Về việc giải quyết vụ án: Các yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm thấy.
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thanh N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thành T. Bị đơn có nơi cư trú tại quận C, thành phố Cần Thơ. Do đó, quan hệ tranh chấp xác định là “Tranh chấp ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà N và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án và xét xừ vắng mặt các đương sự nêu trên.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh N và ông Nguyễn Thành T tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Do đó, hôn nhân giữa bà N và ông T là hợp pháp. Trong thời kỳ hôn nhân giữa bà N và ông T có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hòa hợp trong quan hệ vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành. Ông T cũng thừa nhận hôn nhân không hạnh phúc, bà N không chung thủy, chưa ly hôn nhưng đã chung sống như vợ chồng với người khác. Ông T không đồng ý ly hôn nhưng không có biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Bà N vẫn giữ yêu cầu ly hôn với ông T. Hiện tại, bà N và ông T vẫn không giải quyết được mâu thuẫn, không còn chung sống với nhau. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thanh N đối với ông Nguyễn Thành T.
[2.2] Về con chung: Bà N và ông T xác nhận có 01 con chung tên Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 21 tháng 4 năm 2012, giới tính: nam. Hiện tại, cháu H đang chung sống với ông T. Bà N đồng ý giao cháu H cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, ông T cũng thống nhất nuôi dưỡng cháu H. Do đó, giao cháu H cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật, hoàn cảnh sống và nguyện vọng của cháu H. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu H cho bà Nguyễn Thị Thanh N không ai được cản trở.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông T không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con. Đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung: Bà N và ông T xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết
[2.5] Về nợ chung: Bà N và ông T xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Về án phí án hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thanh N phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh N đối với ông Nguyễn Thành T.
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Thanh N ly hôn và ông Nguyễn Thành T.
[2]. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 21 tháng 4 năm 2012, giới tính: nam cho ông Nguyễn Thành T trực tiếp nuôi dưỡng.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cho bà Nguyễn Thị Thanh N không ai được cản trở.
[3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thanh N không phải cấp dưỡng nuôi con.
[4]. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Thanh N và ông Nguyễn Thành T xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết.
[5]. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thanh N và ông Nguyễn Thành T xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết.
[6]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thanh N phải nộp 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 300.000 đồng bà Nguyễn Thị Thanh N đã nộp theo biên lai thu số 0003400, ngày 06 tháng 5 năm 2024 của chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ thành án phí. Bà Nguyễn Thị Thanh N đã nộp xong.
[7]. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Hồng Vang |
Bản án số 71/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 71/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ngoan-taun
