Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH KIÊN GIANG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/HNGĐ-ST

Ngày 08 - 7- 2024

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Út Mẫn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ngọc Trân

Bà Nguyễn Hồng Xứng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang: Bà Đào Thị Ngọc Trâm - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 64/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2022 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 21/2024/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phù Hải T, sinh năm 1996

Địa chỉ: Tổ A, ấp R, xã B, TP ., tỉnh Kiên Giang

- Bị đơn: Ông Ye YuHong, sinh năm 1984

Địa chỉ: Số D làng T, Phương G, thôn P, phố C, khu C, thành phố C, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc.

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Phù Hải T trình bày theo đơn khởi kiện và bản tự khai: Năm 2019 bà và ông Y YuHong quen biết qua mai mối, quá trình tìm hiểu nãy sinh tình cảm và tiến tới hôn nhân, vợ chồng bà T tổ chức lễ cưới tại Việt Nam theo phong tục tập quán. Sau đó ông bà đăng ký kết hôn tại Trung Quốc vào ngày 20/8/2019. Do không am hiểu pháp luật nên sau khi kết hôn tại Trung Quốc, vợ chồng bà T không về Việt Nam ghi chú kết hôn theo quy định.

Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng bà chung sống cùng nhau tại Trung Quốc. Năm 2020 bà T về Việt Nam thăm gia đình, nhưng do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên bà T không quay về Trung Quốc được. Trong thời gian sống xa nhau vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do khoảng cách địa lý, vợ chồng thường xuyên cải nhau về vấn đề kinh tế, quan điểm sống không hợp nhau, mặc dù đã cố hàn gắn nhưng không thành. Hiện tại ông Y YuHong sống tại Trung Quốc, bà sống tại Việt Nam, bà T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân với ông Y YuHong không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Y YuHong. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Y YuHong: Tòa án đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ cho ông Y YuHong về yêu cầu ly hôn của bà Phù Hải T và thời gian giải quyết vụ án. Ông Y YuHong không có ý kiến theo thủ tục ủy thác tư pháp và vắng mặt tại phiên tòa không lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, không công nhận bà Phù Hải T với bị đơn ông Y YuHong là vợ chồng.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Phù Hải T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Y YuHong vắng mặt tại phiên tòa theo thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ. Căn cứ điều Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Phù Hải T:

Xét thấy bà Phù Hải T và ông Y YuHong tìm hiểu, yêu thương nhau và tự nguyện kết hôn, được Bộ cấp giấy Chứng nhận kết hôn số J330800-2019-000147 ngày 20/8/2019. Tuy nhiên, sau khi được giải quyết việc kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Trung Quốc, bà Phù Hải T và ông Y YuHong chưa thực hiện thủ tục ghi vào Sổ kết hôn tại Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định tại Điều 36 Nghị định 126/2014/NĐ-CPngày 31 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hôn nhân và Gia đình. Do đó, việc kết hôn giữa bà Phù Hải T và ông Y YuHong tại nước ngoài chưa được công nhận tại Việt Nam. Bên cạnh đó, hôn nhân giữa bà Phù Hải T và ông Ye Y1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thống nhất xử không công nhận quan hệ giữa bà Phù Hải T và ông Y YuHong là vợ chồng.

[3] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Án phí: Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà T đã nộp theo biên lai thu số 0002005 ngày 26/10/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.

[5] Lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài: Bà T phải chịu lệ phí ủy thác tư pháp 200.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 200.000 đồng bà T đã nộp theo Biên lai thu số 0016378 ngày 23/11/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 38, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng: Điều 9 và Điều 53 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 36 của Nghị định 126/2014/NĐ-CPChính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phù Hải T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Phù Hải T và ông Ye Y1 là vợ chồng.
  2. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Án phí: Bà Phù Hải T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí sơ thẩm bà T đã nộp theo biên lai thu số 0002005 ngày 26/10/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
  4. Lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài: Bà T phải chịu lệ phí ủy thác tư pháp 200.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 200.000 đồng bà T đã nộp theo Biên lai thu số 0016378 ngày 23/11/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
  5. Quyền kháng cáo: Bà Phù Hải T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Ông Ye Y1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - Cục THA dân sự tỉnh Kiên Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Út Mẫn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HNGĐ-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 71/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn tien - hong
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger