|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 71/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 08-5-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Nhựt Thảo
- Ông Trương Thành Tuấn
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tố Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 388/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Lý Thị Như Y, sinh năm 1993; Địa chỉ: Tổ B, ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang. (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Nguyễn Văn V, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ B, ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 23/10/2023, quá trình tố tụng nguyên đơn bà Lý Thị Như Ý trình bày:
- Về hôn nhân: bà và ông Nguyễn Văn V do tự tìm hiểu nên đã sống chung từ năm 2012, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn ngày 13/7/2015 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng bà sống hạnh phúc được một thời gian đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông V thường xuyên uống rượu, không chăm lo gia đình nên vợ chồng thường cự cãi bất hòa, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, bà và ông V không còn sống chung từ đầu năm 2021 đến nay. Hiện nay bà không còn tình cảm với ông Nguyễn Văn V nên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn V.
- Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Văn K, sinh ngày 01/12/2015 và Nguyễn Thị Mỹ X, sinh ngày 23/6/2020. Bà yêu cầu được nuôi con chung, yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
* Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn ông Nguyễn Văn V nhưng ông Nguyễn Văn V đều vắng mặt không có lý do, đồng thời không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại biên bản ghi nhận nguyện vọng con chung ngày 19/3/2024 cháu Nguyễn Văn K trình bày nguyện vọng được sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn.
* Tại phiên tòa:
- Bà Lý Thị Như Ý có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và không có văn bản thay đổi yêu cầu khởi kiện.
- Ông Nguyễn Văn V vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân bà Lý Thị Như Ý được ly hôn ông Nguyễn Văn V, bà Như Ý được quyền nuôi con chung, ông V phải cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật, tài sản chung và nợ chung các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
1.1 Quan hệ tranh chấp: Tranh chấp giữa bà Lý Thị Như Ý và ông Nguyễn Văn V là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2 Thẩm quyền giải quyết: Tại biên bản xác minh thông tin cư trú ngày 06/3/2024 Công an xã C, huyện C, tỉnh An Giang xác định ông Nguyễn Văn V đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
1.3 Về sự có mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Lý Thị Như Ý có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Văn V đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
2.1 Về hôn nhân: bà Lý Thị Như Ý và ông Nguyễn Văn V kết hôn năm 2015, hôn nhân do tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn ngày 13/7/2015 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh An Giang nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhằm tạo điều kiện cho bà Lý Thị Như Ý và ông Nguyễn Văn V được đoàn tụ, nhưng bà Lý Thị Như Ý cương quyết ly hôn. Ông Nguyễn Văn V đều vắng mặt tại các phiên hòa giải chứng tỏ ông Nguyễn Văn V cũng không có mong muốn được đoàn tụ. Như vậy hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lý Thị Như Ý.
2.2 Về con chung: bà Lý Thị Như Ý và ông Nguyễn Văn V có 02 con chung tên Nguyễn Văn K, sinh ngày 01/12/2015 và Nguyễn Thị Mỹ X, sinh ngày 23/6/2020. Bà Lý Thị Như Ý có yêu cầu được nuôi con chung sau khi ly hôn, ông Nguyễn Văn V không có ý kiền gì về con. Nhận thấy hiện cháu Nguyễn Văn K và cháu Nguyễn Thị Mỹ X còn nhỏ, để tránh làm xáo trộn đời sống, ảnh hưởng đến việc học của các cháu nên căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Như Ý được quyền nuôi con chung.
2.3 Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tại đơn khởi kiện ngày 23/10/2023, quá trình tố tụng bà Lý Thị Như Ý có yêu cầu ông Nguyễn Văn V cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy ông Nguyễn Văn V không trực tiếp nuôi con nên phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 82, Điều 107 Luật hôn nhân và gia đình, yêu cầu của bà Như Ý là có căn cứ nên được hội đồng xét xử chấp nhận.
2.4 Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết
2.5 Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Về án phí sơ thẩm: bà Lý Thị Như Ý là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[4] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Thị Như Ý.
- Về hôn nhân: bà Lý Thị Như Ý được ly hôn ông Nguyễn Văn V.
- Về con chung: bà Lý Thị Như Ý được quyền nuôi con chung tên Nguyễn Văn K, sinh ngày 01/12/2015 và Nguyễn Thị Mỹ X, sinh ngày 23/6/2020.
- Về án phí sơ thẩm: bà Lý Thị Như Ý phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004291 ngày 22/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Quyền kháng cáo: Bà Lý Thị Như Ý và ông Nguyễn Văn V được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Ông Nguyễn Văn V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung, mức cấp dưỡng cho một con chung mỗi tháng là ½ mức lương cơ sở do Nhà nước quy định tương ứng từng thời điểm thi hành án. Thời gian cấp dưỡng từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi hai cháu Nguyễn Văn K và Nguyễn Thị Mỹ X đủ 18 tuổi.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Ông Nguyễn Văn V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Hữu Phúc |
Bản án số 71/2024/HNGĐ-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 71/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
