Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH THUẬN

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 71/2024/DS-ST

Ngày: 07-8-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thanh Nhàn
  2. Bà Sử Thị Huyền Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Chúc Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tri Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 246/2023/TLST-DS ngày 21 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST-DS ngày 02/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2024/QĐST-DS ngày 23/7/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty tài chính TNHH một thành viên Quốc Tế Việt Nam JACCS (JIVF)

    Địa chỉ: Lầu 15 Toà nhà Centec, 72-74 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Võ Thị Sáu, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đăng T, sinh năm 1986, trú tại: 581/73B đường HBT, khu phố HTK, phường VQ, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang (có mặt)

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1993 (vắng mặt)

    Địa chỉ: ấp Kinh 2A, xã TT, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 26/6/2023; biên bản lấy lời khai ngày 28/5/2024 và trong quá trình xét xử, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Đăng T trình bày:

Ngày 11/12/2022 Công ty tài chính TNHH Một thành viên Quốc tế Việt Nam Jaccs (JIVF) có cho bà Nguyễn Thị Hồng N vay 25.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng 9301000035324322000, lãi thỏa thuận mỗi tháng 4.35%/tháng, lãi thỏa thuận theo năm 52.2%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, thời hạn vay 18 tháng kể từ ngày 11/12/2022 đến ngày 24/6/2024.

Phương thức trả gốc, lãi theo định kỳ hàng tháng, mỗi tháng trả 2.043.421 đồng, ngày trả đầu tiên là ngày 27/01/2023, ngày trả cuối cùng là ngày 24/6/2024 với số tiền 2.753.942 đồng.

Mục đích vay để sửa chữa nhà ở. Vay không có tài sản đảm bảo.

Quá trình thực hiện bà N đã trả được 03 kỳ, với số tiền 6.135.000 đồng thì không tiếp tục trả nữa. Do vậy bà N đã vi phạm hợp đồng đã thỏa thuận.

Tính đến thời điểm này thì bà N còn nợ Công ty tài chính tổng cộng 38.055.032 đồng, trong đó: Gốc 22.363.208 đồng, lãi trong hạn 12.826.745 đồng, lãi quá hạn 2.709.079 đồng và phí quản lý khoản vay là 156.000 đồng.

Trong vụ án này xác định chỉ khởi kiện bà Nguyễn Thị Hồng N, do việc vay tiền chỉ bà N vay. Do đó nay chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Hồng N phải trả cho Công ty tài chính số tiền vay còn thiếu đến ngày 26/6/2024 là 38.055.032 đồng, trong đó: Gốc 22.363.208 đồng, lãi trong hạn 12.826.745 đồng, lãi quá hạn 2.709.079 đồng và phí quản lý khoản vay là 156.000 đồng.

* Tại phiên tòa:

- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Đăng T có ý kiến: Quá trình thực hiện hợp đồng thì bà N đã trả gốc, lãi đến ngày 23/3/2023, kể từ ngày 24/3/2023 thì không trả nữa. Nay yêu cầu bà Nguyễn Thị Hồng N phải trả cho Công ty tài chính số tiền vay còn thiếu đến ngày 07/8/2024 là 38.055.032 đồng, trong đó: Gốc 22.363.208 đồng, lãi trong hạn 12.826.745 đồng, lãi quá hạn 2.709.079 đồng và phí quản lý khoản vay là 156.000 đồng và tiếp tục trả lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký tính từ ngày 08/8/2024 cho đến khi trả hết nợ vay.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N vắng mặt lần thứ hai, không lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

- Đại diện viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; đối với người tham gia tố tụng bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là chưa đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, cụ thể như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa xét xử.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH Một thành viên Quốc tế Việt Nam Jaccs (JIVF), buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N phải trả cho Công ty tài chính số tiền vay còn thiếu đến ngày 07/8/2024 là 38.055.032 đồng, trong đó: Gốc 22.363.208 đồng, lãi trong hạn 12.826.745 đồng, lãi quá hạn 2.709.079 đồng và phí quản lý khoản vay là 156.000 đồng và tiếp tục trả lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký tính từ ngày 08/8/2024 cho đến khi trả hết nợ vay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo cho bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N biết và quy định thời gian để bị đơn có ý kiến về việc khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH Một thành viên Quốc tế Việt Nam Jaccs (JIVF), nhưng bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N không có ý kiến gì và cũng không cung cấp chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Do đó, Tòa án vẫn tiến hành việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Sau đó Tòa án nhận được đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải của ông T là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH Một thành viên Quốc tế Việt Nam Jaccs (JIVF). Như vậy, được xác định đây là vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: “.....Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải”.

Nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và đã tống đạt hợp lệ các thủ tục xét xử cho bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N, nhưng bị đơn bà N vắng mặt không có lý do nên HĐXX phải hoãn phiên tòa. Quyết định hoãn phiên tòa để mở phiên tòa xét xử lần thứ hai đã được tống đạt hợp lệ cho bị đơn bà N, nhưng bị đơn bà N vẫn vắng mặt không có lý do, đồng thời tại phiên tòa hôm nay, ông T là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Công ty tài chính TNHH Một thành viên Quốc tế Việt Nam Jaccs (JIVF) không yêu cầu hoãn phiên tòa. Vì vậy, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn bà N theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và về thẩm quyền: Nguyên đơn Công ty tài chính TNHH Một thành viên Quốc tế Việt Nam Jaccs (JIVF) khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N phải trả số tiền vay còn thiếu theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Do đó, quan hệ pháp luật trong trường hợp này được xác định là tranh chấp hợp đồng tín dụng. Do bị đơn cư trú tại huyện Vĩnh Thuận nên thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[3] Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn tại phiên tòa hôm nay, có đủ cơ sở để xác định giữa Công ty tài chính TNHH Một thành viên Quốc tế Việt Nam Jaccs (JIVF) và bà Nguyễn Thị Hồng N đã xác lập hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn và có lãi với nhau. Cụ thể theo hợp đồng tín dụng số 9301000035324322000 ngày 11/12/2022 thì Công ty tài chính cho bà N vay 25.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất mỗi tháng 4.35%/tháng, lãi thỏa thuận theo năm 52.2%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, thời hạn vay 18 tháng kể từ ngày 11/12/2022 đến ngày 24/6/2024.

Phương thức trả gốc, lãi theo định kỳ hàng tháng, mỗi tháng trả 2.043.421 đồng, ngày trả đầu tiên là ngày 27/01/2023, ngày trả cuối cùng là ngày 24/6/2024 với số tiền 2.753.942 đồng.

Mục đích vay để sửa chữa nhà ở. Vay không có tài sản đảm bảo.

Quá trình thực hiện hợp đồng tính đến ngày 23/3/2023 bà N đã trả được 03 kỳ, với số tiền 6.135.000 đồng thì không tiếp tục trả nữa. Do vậy bà N đã vi phạm hợp đồng đã thỏa thuận.

Hiện bà N còn nợ tổng số tiền vay tính đến ngày 07/8/2024 là 38.055.032 đồng, trong đó: Gốc 22.363.208 đồng, lãi trong hạn 12.826.745 đồng, lãi quá hạn 2.709.079 đồng và phí quản lý khoản vay là 156.000 đồng.

Vì vậy, nay bà N phải có trách nhiệm trả cho Công ty tài chính TNHH Một thành viên Quốc tế Việt Nam Jaccs (JIVF) số tiền vay còn thiếu là 38.055.032 đồng, trong đó: Gốc 22.363.208 đồng, lãi trong hạn 12.826.745 đồng, lãi quá hạn 2.709.079 đồng và phí quản lý khoản vay là 156.000 đồng, vì đây là nghĩa vụ của bên vay tài sản theo quy định tại các điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận toàn bộ.

[4] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án: Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N phải chịu 1.902.751 đồng (38.055.032₫ x 5%) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 147, khoản 4 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,

Áp dụng các điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015; các điều 99, 100, 103, 107 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Tuyên xử:

  1. Buộc bà Nguyễn Thị Hồng N phải trả cho Công ty tài chính TNHH Một thành viên Quốc tế Việt Nam Jaccs (JIVF) số tiền vay tính đến ngày 07/8/2024 là 38.055.032 đồng, trong đó: Gốc 22.363.208 đồng, lãi trong hạn 12.826.745 đồng, lãi quá hạn 2.709.079 đồng và phí quản lý khoản vay là 156.000 đồng.
  2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày 08/8/2024, bà N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi trên nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

  3. Về án phí:
  4. - Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N phải chịu 1.902.751 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    - Hoàn trả lại cho Công ty tài chính TNHH Một thành viên Quốc tế Việt Nam Jaccs (JIVF) 614.547 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0005283 ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 07/8/2024); đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Toà án tỉnh KG;
  • - VKS huyện, tỉnh;
  • - Các Đ/s;
  • - UBND xã TT;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Lưu (HSVA, VPTA).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Phạm Thị Mỹ Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/DS-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 71/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm g khoản 1 Điều 40, Điều 147, khoản 4 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Áp dụng các điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự năm 2015; các điều 99, 100, 103, 107 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Tuyên xử: 1.Buộc bà Nguyễn Thị Hồng N phải trả cho Công ty tài chính TNHH Một thành viên Quốc tế Việt Nam Jaccs (JIVF) số tiền vay tính đến ngày 07/8/2024 là 38.055.032 đồng, trong đó: Gốc 22.363.208 đồng, lãi trong hạn 12.826.745 đồng, lãi quá hạn 2.709.079 đồng và phí quản lý khoản vay là 156.000 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày 08/8/2024, bà N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi trên nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. 2. Về án phí: - Bị đơn bà Nguyễn Thị Hồng N phải chịu 1.902.751 đồng án phí dân sự sơ thẩm. - Hoàn trả lại cho Công ty tài chính TNHH Một thành viên Quốc tế Việt Nam Jaccs (JIVF) 614.547 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0005283 ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 07/8/2024); đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger