TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 71/2024/HNGĐ-ST Ngày: 07-5-2024. V/v tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con chung | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Bích Thơ
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Ngô Văn Khon.
- Ông Nguyễn Hoàng Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Chí P – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17 tháng 4, ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 495/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 53/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim T, sinh năm: 1998 (có mặt);
Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Ngoãn E, sinh năm: 1994 (vắng mặt lần thứ 2 không có lý do).
Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 14/8/2023, bản tự khai, văn bản ý kiến, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và trong quá trình xét xử;
- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim T trình bày: Về hôn nhân: Chị T và anh Em tự nguyện tìm hiểu quen biết sau 03 tháng về sống chung như vợ chồng, không có tổ chức đám cưới, gia đình hai bên tổ chức tiệc nhỏ để gặp mặt, đến ngày 09/3/2016 đăng ký kết hôn tại UBND xã B. Mâu thuẩn phát sinh là do anh Ngoãn E tham gia tệ nạn xã hội cờ bạc, chơi bời, uống rượu về cằn nhằn vợ con, nên đã ly thân từ tháng 8/2023 đến nay. Về con chung cháu Nguyễn Ngọc Khánh M, sinh ngày 06/02/2014 đang do chị T nuôi dưỡng. Về tài sản chung 01 căn nhà cấp 4, diện tích là 82,8m², tọa lạc xã B, kết cấu khung BTCT, nền gạch bông, mái lợp tol, xây dựng trên phần đất của bà Tiêu Thị N (bà nội chị T), cư trú ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, giá trị căn nhà và đất là 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng). Về nợ chung nợ ông P1 số tiền 30.000.000đ, ngoài ra không còn nợ ai khác.
Nay chị Nguyễn Thị Kim T yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn Ngoãn E, con chung yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Khánh M, sinh ngày 06/02/2014, không yêu cầu anh Ngoãn E cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Nguyễn Văn N1 Em trình bày: Về hôn nhân và con chung thống nhất lời trình bày của chị T và có đăng ký kết hôn theo quy định. Về tài sản chung 01 căn nhà cấp 4, diện tích là 82,8m², tọa lạc xã B, kết cấu khung BTCT, nền gạch bông, mái lợp tol, xây dựng trên phần đất của bà Tiêu Thị N, cư trú ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, giá trị căn nhà và đất là 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng). Về nợ chung nợ ông P1 số tiền 30.000.000đ, nợ ông K là 60.000.000đ, tổng cộng là 90.000.000₫.
Nay anh Nguyễn Văn N1 Em yêu cầu: Thống nhất ly hôn với chị T, về con chung thống nhất giao cháu Khánh M cho chị T nuôi dưỡng và thống nhất cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng là 1.000.000đ/tháng, tài sản chung yêu cầu chia ½ tài sản chung là giá trị căn nhà là 300.000.000đ, yêu cầu nhận nhà và trả lại giá trị chênh lệch tài sản cho chị T là 150.000.000đ và nợ chung yêu cầu chị T có nghĩa vụ trả ½ nợ chung là 45.000.000đ.
Tại phiên tòa chị T trình bày: Yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn Ngoãn E, con chung yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Khánh M, sinh ngày 06/02/2014, không yêu cầu anh Ngoãn E cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn N1 Em vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến và yêu cầu của anh Ngoãn E.
- Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật như đến tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tham dự phiên tòa là vi phạm Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự, cần phê phán rút kinh nghiệm.
Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Về hôn nhân chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim T đối với anh Nguyễn Văn Ngoãn E, chấp nhận yêu cầu của chị T về việc giao con chung Nguyễn Ngọc Khánh M, sinh ngày 06/02/2014 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh Ngoãn E có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Ngoãn E cấp dưỡng cho cháu M với mức cấp dưỡng mỗi tháng là 1.000.000đ, tài sản chung và nợ chung không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về pháp luật tố tụng:
[1.1.] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Nguyễn Văn Ngoãn E, hiện nay đăng ký cư trú ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn cư trú, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2.] Về quan hệ pháp luật: Chị T và anh Ngoãn E, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nay chị T yêu cầu ly hôn với anh Ngoãn E, yêu cầu nuôi con chung, nên phát sinh tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn và nuôi con chung. Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về pháp luật áp dụng: Tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.
[1.4.] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh Nguyễn Văn N1 Em vắng mặt lần thứ 2 không có lý do chính đáng. Hội đồng xét xử xét thấy bị đơn anh Ngoãn E cố tình vắng mặt, không có ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn và bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Ngoãn E là phù hợp và đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị T và anh Ngoãn E là hoàn toàn tự nguyện và thực tế đã xảy ra, anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định. Trong quá trình chung sống xuất phát từ mâu thuẩn do bất đồng quan điểm sống, kinh tế, tiền bạc, anh Ngoãn E tham gia tệ nạn xã hội như chơi số đề, lắc tài xỉu, đá gà.. thường xuyên gây nợ nần, dẫn đến mâu thuẩn ngày càng trầm trọng, nhưng đến nay vẫn không hàn gắn đoàn tụ được.
Nay chị T yêu cầu ly hôn với anh Ngoãn E và anh Ngoãn E thống nhất ly hôn với chị T, Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân là sự tự nguyện, không ai cưởng ép hay ép buộc, cả hai phải tôn trọng, giúp đở, chăm sóc, giữ gìn hạnh phúc gia đình, để nuôi dạy con, nhưng giữa chị T và anh Ngoãn E không có sự gắn kết, không có tiếng nói chung, mâu thuẩn trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị T và anh Ngoãn E thống nhất thuận tình ly hôn, nên Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn của chị T và anh Ngoãn E là phù hợp và đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung:
[2.2.1.] Về nuôi con chung chưa thành niên: Con chung tên Nguyễn Ngọc Khánh M, sinh ngày 06/02/2014, hiện nay chị T đang nuôi dưỡng, chị T yêu cầu tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M, anh Ngoãn E thống nhất giao cháu M cho chị T nuôi dưỡng đến trưởng thành. Mặt khác, nguyện vọng của cháu Khánh M được chị T nuôi dưỡng. Để đảm bảo cho cháu M có cuộc sống ổn định, phát triển tốt về tinh thần và thể chất, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cháu và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên sau khi ly hôn.
Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của chị T và anh Ngoãn E, tiếp tục giao cháu Nguyễn Ngọc Khánh M, sinh ngày 06/02/2014 cho chị T nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Anh Ngoãn E có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu M không ai được cản trở.
[2.2.2.] Về cấp dưỡng cho con: Chị T không yêu cầu anh Ngoãn E cấp dưỡng cho cháu M và anh Ngoãn E tự nguyện cấp dưỡng cho cháu M với mức cấp dưỡng mỗi tháng là 1.000.000đ, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của anh N1 Em về việc tự nguyện cấp dưỡng cho cháu M.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Có 01 căn nhà cấp 4, diện tích là 82,8m², tọa lạc xã B, kết cấu khung BTCT, nền gạch bông, mái lợp tol, xây dựng trên phần đất của bà Tiêu Thị N, cư trú ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp và nợ ông P1 số tiền 30.000.000đ, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với ý kiến của bị đơn anh Ngoãn E yêu cầu chia ½ tài sản chung là giá trị căn nhà là 300.000.000đ, yêu cầu nhận nhà và trả lại giá trị chênh lệch tài sản cho chị T là 150.000.000đ và nợ chung yêu cầu chị T có nghĩa vụ trả ½ nợ chung là 45.000.000đ. Căn cứ Công văn số 198/2024/CV-TA ngày 15/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, hướng dẫn yêu cầu anh Ngoãn E nộp đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung, đến nay đã hết thời hạn nộp đơn khởi kiện theo quy định nhưng anh Ngoãn E vẫn không nộp đơn yêu cầu khởi kiện cho Tòa án để thụ lý yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung của anh Ngoãn E, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Anh Ngoãn E có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác khi có yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung sau khi ly hôn với chị T.
[2.4] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim T phải chịu án phí hôn nhân gia đình là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Bị đơn anh Nguyễn Văn N1 Em phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng cho con.
[3] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử do đó được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, 82, 83, 110 Luật hôn nhân gia đình; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kim T và anh Nguyễn Văn N1 Em.
2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị T và anh Ngoãn E về việc nuôi con chung. Giao cháu Nguyễn Ngọc Khánh M, sinh ngày 06/02/2014 cho chị Nguyễn Thị Kim T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành đủ 18 tuổi.
Anh Nguyễn Văn N1 Em có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho cháu Nguyễn Ngọc Khánh M, sinh ngày 06/02/2014 với mức cấp dưỡng là 1.000.000đ/ tháng (Một triệu đồng) đến khi cháu Khánh M đủ 18 tuổi, thời hạn cấp dưỡng kể từ ngày xét xử sơ thẩm là ngày 07/5/2024.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn N1 Em không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Anh Nguyễn Văn N1 Em không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Nguyễn Thị Kim T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của anh Nguyễn Văn N1 Em.
3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Nguyễn Thị Kim T đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004377 ngày 24/11/2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, chị Nguyễn Thị Kim T không phải nộp thêm.
Bị đơn anh Nguyễn Văn N1 Em phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng cho con.
Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 07/5/2024). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lý Thị Bích Thơ |
Bản án số 71/2024/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 71/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
