|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 71/2024/HS-ST Ngày: 06-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Duy Phi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Hào, ông Nguyễn Văn Đương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Xeo Thái Dịu- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tổ chức Phiên Tòa trực tuyến diễn ra tại các điểm cầu gồm: Điểm cầu Trung tâm là Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An và điểm cầu thành phần là Trại tạm giam Công an tỉnh N để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đình N, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1993 tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm F, xã N, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Đình H, sinh năm: 1965 và con bà Mai Thị T, sinh năm: 1968; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo Nguyễn Đình N bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/6/2024. Hiện nay đang áp dụng biện pháp tạm giam Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng gần 10 giờ 00 phút ngày 15/6/2024, bị cáo Nguyễn Đình N một mình đi bộ từ nhà tại xóm F, xã N, huyện Đ, tỉnh Nghệ An ra đường Q để bắt xe buýt xuống khu vực cầu Đ thuộc địa phận xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi, Bị cáo N mang theo 01 (một) bơm kim kiêm và 01 (một) lọ nước cất giấu vào túi quần phía trước bên phải của Bị cáo N đang mặc (Bơm kim tiêm này bị cáo N đã mua từ lâu tại một hiệu thuốc mà bị cáo N không nhớ địa chỉ cụ thể). Khi đi đến nơi, bị cáo N xuống xe buýt và đi bộ một đoạn thì Bi cáo N gặp một người đàn ông không quen biết nhìn dáng giống người nghiện ma túy nên bị cáo N đã đi đến gần rồi hỏi: “anh lấy được trắng không, lấy hộ em trăm?”, ý hỏi người đàn ông này mua được ma túy heroine không, mua hộ cho bị cáo N 100.000 (một trăm ngàn) đồng thì người đàn ông đó nói: “đưa tiền đây?”. Bị cáo N đưa số tiền 100.000 (một trăm ngàn) đồng cho người đàn ông đó rồi người đàn ông đó điều khiển xe máy đi đâu bị cáo N không rõ. Khoảng 05 phút sau, người đàn ông không quen biết quay lại và đưa cho bị cáo N 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng bên trong có 01 (một) gói giấy thiếc màu vàng bên trong có lớp giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng (nghi ma túy Heroine). Bị cáo N cất giấu vào túi áo phía trước bên trái bị cáo N đang mặc. Sau đó, bị cáo N xin ngồi nhờ xe của người đi đường để đi về nhà. Khi đi đến lối vào nhà thì bị cáo N xuống xe đi bộ một mình. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, khi bị cáo N đi được một đoạn tại đoạn đường khu vực xóm F, xã N, huyện Đ thì bị cáo N bị lực lượng tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số 2 - Phòng C3, Công an tỉnh N phát hiện thu giữ vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có chứa 01 (một) gói nhỏ (nghi ma túy Heroine) bị cáo N đang cất giấu trong túi áo phía trước bên trái và thu giữ một bơm kim tiêm cùng một lọ nước cất chưa qua sử dụng ở bên trong túi quần phía trước bên phải bị cáo N đang mặc. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo N và tiến hành thu giữ, niêm phong vật chứng theo đúng quy định. Sau đó, chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để điều tra làm rõ.
Ngày 16/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã thành lập hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại, xác định: 01(một) hộp thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long màu vàng, kích thước (02x05x09) cm, mở ra bên trong chứa 01(một) gói nhỏ bằng giấy thiếc màu vàng, kích thước (02x02) cm, bên trong có lớp giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy thu giữ của bị cáo Nguyễn Đình N có khối lượng chất bột màu trắng là 0,257g (không phẩy hai trăm năm mươi bảy gam). Hội đồng đã lấy toàn bộ chất màu trắng có khối lượng 0,257g (không phẩy hai trăm năm mươi bảy gam) thu giữ của bị cáo Nguyễn Đình N để gửi đi giám định tại Phòng K Công an tỉnh N.
Tại kết luận giám định số 681/KL- KTHS (Đ2- MT) ngày 19/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo Nguyễn Đình N gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H). Số chất bột màu trắng thu giữ của bị cáo Nguyễn Đình N có khối lượng là 0,257g (không phẩy hai trăm năm mươi bảy gam). Mẫu cần giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Cáo trạng số 66/CT-VKS-ĐL ngày 23/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Nguyễn Đình N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS; Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình N từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (Mười tám) tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo N;
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, tuyên xử: Tịch thu tiêu hủy: 01(một) phong bì thư màu trắng của Công an huyện Đ, kích thước (17x23) cm, niêm phong theo đúng quy định. Phía sau trên các mép dán có đầy đủ chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và chữ ký của đối tượng Nguyễn Đình N. Bên trong chứa: 01(một) vỏ phong bì niêm phong ban đầu, vỏ thuốc lá Thăng Long, vỏ giấy thiếc màu vàng và giấy màu trắng thu giữ của bị cáo Nguyễn Đình N vào ngày 15/6/2024; 01 (một) bơm kim tiêm chưa qua sử dụng và 01 (một) lọ nước cất chưa qua sử dụng thu giữ ngày 15/6/2024 của bị cáo Nguyễn Đình N; Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đình N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
ại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trang truy tố là đúng nên không tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của C tra Công an huyện Đ, của Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của C1 hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét hành vi của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo đã truy tố là đúng. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, các tài liệu, chứng cứ khác đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà có cơ sở để kết luận: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 15/6/2024, tại khu vực xóm F, xã N, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số B - Phòng C3, Công an tỉnh N phát phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Đình N đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Heroine) khối lượng 0,257g (không phẩy hai trăm năm mươi bảy gam) với mục đích để sử dụng. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Đình N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều Bộ luật Hình như cáo trạng truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
[2.2] Xét tính chất hành vi của bị cáo:
Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc loại nghiêm trọng là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương, xâm phạm đến quyền chính sách độc quyền về quản lý ma túy của N1 là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý; động cơ mục đích phạm tội là tàng trữ để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[2.3]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo N phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật nên trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có ông nội là ông Nguyễn Đình C2 là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[2.4] Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội này ngoài hình phạt chính còn có hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có công việc ổn định nên miễn hình phạt tiền cho bị cáo.
[2.5]. Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ điều Công an huyện Đ đã thu giữ: + 01(một) phong bì thư màu trắng của Công an huyện Đ, kích thước (17x23) cm, niêm phong theo đúng quy định. Phía sau trên các mép dán có đầy đủ chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và chữ ký của đối tượng Nguyễn Đình N. Bên trong chứa: 01 (một) vỏ phong bì niêm phong ban đầu, vỏ thuốc lá Thăng Long, vỏ giấy thiếc màu vàng và giấy màu trắng thu giữ của Nguyễn Đình N vào ngày 15/6/2024. 01 (một) bơm kim tiêm chưa qua sử dụng và 01 (một) lọ nước cất chưa qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Đình N nay không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[3] Đối với người đàn ông theo bị cáo Nguyễn Đình N khai là người bán ma túy cho bị cáo. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã điều tra, xác minh nhưng tại xuống khu vực cầu Đ thuộc địa phận xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An không có người đàn ông nào có đặc điểm như bị cáo mô tả. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý, khi nào điều tra, xác minh được sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
[4] Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An về việc giải quyết toàn diện vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đình N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 BLHS; Điều 106; Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình N 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 15/6/2024).
- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Đình N.
- Về vật chứng: Tịch tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì thư màu trắng của Công an huyện Đ, kích thước (17x23) cm, niêm phong theo đúng quy định. Phía sau trên các mép dán có đầy đủ chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và chữ ký của bị cáo Nguyễn Đình N. Bên trong chứa: 01(một) vỏ phong bì niêm phong ban đầu, vỏ thuốc lá Thăng Long, vỏ giấy thiếc màu vàng và giấy màu trắng, 01 (một) bơm kim tiêm chưa qua sử dụng và 01 (một) lọ nước cất chưa qua sử dụng thu giữ của bị cáo Nguyễn Đình N vào ngày 15/6/2024. (Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 23/7/2024, giữa Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An).
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đình N chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Duy Phi |
Bản án số 71/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 71/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Đình N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
