Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 71/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06/8/2024

V/v “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thi Thị Thanh Trúc.

Bà Trần Thị Sang.

Thư ký phiên tòa: Bà Châu Thị Phượng Liên là Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trường - Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 493/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXX-ST ngày 21 tháng 6 năm 2024 giữa:

Nguyên đơn: Chị Sơn Thị Vi N, sinh năm 1993 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh

Bị đơn: Anh Sơn Kim Lâm T, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn chị Sơn Thị Vi N có ý kiến:

Vợ chồng chị tự nguyện cưới nhau và có đăng ký kết hôn ngày 09/01/2013 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Sau khi cưới nhau vợ chồng chị cùng sống bên nhà cha mẹ bên chị tại: Ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Quá trình chung sống do anh T đam mê cờ bạc, rượu chè về kiếm chuyện gây gỗ với vợ con, anh thường xuyên dùng lời lẽ khiếm nhã xúc phạm chị thậm tệ, anh còn nhiều lần đánh đập chị, khi chị đang mang thai, đốt quần áo chị, mỗi khi chị phản ứng khi anh T có hành động và lời lẽ bất kính với cha mẹ vợ, thậm chí anh T còn vô cơ ghen tuông. Anh T còn nhiều lần đánh đạp chị. Đến nay vợ chồng chị đã sống ly thân đã 7 năm. Nay chị Vi N yêu cầu được ly hôn anh Sơn Kim Lâm T.

Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung tên Sơn Kim Thái B, sinh ngày 13/5/2010 và Sơn Kim Thái Q, sinh ngày 26/4/2012. Các con đang sống cùng chị, khi ly hôn chị Vi N yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con. Chị Vi N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, nợ chung: Không có, nên tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Sơn Kim Lâm T, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định xét xử, giấy triệu tập nhiều lần cho anh S Kim Lâm T biết. Nhưng anh S Kim Lâm T không đến Tòa án theo thông báo của Tòa án, cố tình vắng mặt và không gửi văn bản nêu ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị Sơn Thị Vi N.

* Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đối với việc tuân theo pháp luật tố tụng:

  • - Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử.
  • - Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa hôm nay đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Đối với đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý đến thời điểm này nguyên đơn đã thực hiện theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Đối với việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Sơn Thị Vi N, về con chung: Giao con chung Sơn Kim Thái B, sinh ngày 13/5/2010 và Sơn Kim Thái Q, sinh ngày 26/4/2012 cho chị Vi N tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Vi N không yêu cầu nên không xem xét. Về Tài sản, nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết đề xuất không xem xét. Về án phí dân sự sơ thẩm đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị Sơn Thị Vi N phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Nguyên đơn chị Sơn Thị Vi N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh Sơn Kim Lâm T, trú tại ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh, yêu cầu giải quyết về con chung, về tài sản, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

[2] Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Sơn Thị Vi N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Sơn Kim Lâm T vắng mặt không có lý do tại phiên tòa. Tòa án đã lập biên bản không tiến hành hòa giải được, tiến hành công khai chứng cứ vắng mặt anh Sơn Kim Lâm T và xét xử vắng mặt họ theo quy định tại 207, 208, 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[3] Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị Sơn Thị Vi N và anh Sơn Kim Lâm T sau khi được sự đồng ý của cha mẹ hai bên, anh chị đã tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L vào năm 2015, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Chị Vi N cho rằng vợ chồng có mâu thuẫn, sống không hạnh phúc, vợ chồng chị Sơn Thị Vi N và anh Sơn Kim Lâm T có mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng là sự thật và họ đã sống ly thân đến nay hơn 07 năm. Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên chị Sơn Thị Vi N và anh Sơn Kim Lâm T đã bỏ mặt nhau, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, trong khoảng thời gian này hai người không hề gặp nhau để thực hiện quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy hai bên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng nghiêm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được và trong quá trình giải quyết vụ án anh T mặt dù biết chị Vi N khởi kiện tại Tòa án yêu cầu ly hôn anh, nhưng anh không đến Tòa án, thể hiện anh Sơn Kim Lâm T không quan tâm, không tha thiết hàn gắn trong cuộc hôn nhân này. Từ phân tích trên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Sơn Thị Vi N đối với anh Sơn Kim Lâm T.

Về con chung: Chị Sơn Thị Vi N và anh Sơn Kim Lâm T có 02 người con chung là tên Sơn Kim Thái B, sinh ngày 13/5/2010 và Sơn Kim Thái Q, sinh ngày 26/4/2012. Hai cháu Sơn Kim Thái B, sinh ngày 13/5/2010 và Sơn Kim Thái Q, sinh ngày 26/4/2012 có nguyện vọng khi cha mẹ ly hôn được sống chung với chị Vi Na. Hiện nay Sơn Kim Thái B, Sơn Kim Thái Q do chị Vi N đang nuôi dưỡng. Tránh làm thay đổi môi trường sống của cháu và hiện nay cháu Sơn Kim Thái B, Sơn Kim Thái Q được chị Vi N nuôi dưỡng vẫn phát triển bình thường như bao đứa trẻ khác. Nên đồng ý giao cháu Sơn Kim Thái B, Sơn Kim Thái Q cho chị Vi N tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Vi N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét.

Về tài sản, nợ chung: Chị Vi N khai không có, nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên không xe xét.

[4] Đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí sơ thẩm: Chị Sơn Thị Vi N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Sơn Thị Vi N và anh Sơn Kim Lâm T.

    Về hôn nhân: Chị Sơn Thị Vi N được ly hôn anh Sơn Kim Lâm T.

    Về con chung: Chị Sơn Thị Vi N được quyền tiếp tục nuôi con chung là Sơn Kim Thái B, sinh ngày 13/5/2010 và Sơn Kim Thái Q, sinh ngày 26/4/2012 (theo nguyện vọng cháu Sơn Kim Thái B, Sơn Kim Thái Q được sống chung với chị Vi N).

    Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Sơn Thị Vi N không yêu cầu, nên không xem xét.

    Không ai được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung. Vì quyền và lợi ích hợp pháp của chung, khi cần thiết và có yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con, cũng như quyết định phần cấp dưỡng nuôi con.

    Về tài sản, nợ chung: Sơn Thị Vi N khai không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  2. Về án phí: Chị Sơn Thị Vi N phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003479 ngày 06/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành. Chị Sơn Thị Vi N đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho các đương sự vắng mặt tại phiên toà biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - CCTHADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Lương Hoà A;
  • - Lưu;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phú Hiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HNGĐ-ST ngày 06/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh về tranh chấp về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 71/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sơn Thị Vi Na yêu cầu ly hôn Sơn Kim Lâm Thiên
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger