|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 71/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06/5/2024 V/v: “Ly hôn giữa chị Trang và anh Phương” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Vĩnh Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Đào
- Ông Võ Thành Nhân
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thoảng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Đoan Trang – Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 659/2023/TLST - HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXX - DS ngày 18 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Châu Thị Thùy T, sinh năm 1981; Địa chỉ: ấp H, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: anh Trương Hoàng P, sinh năm 1977; Địa chỉ: ấp H, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang
chị T, anh P vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 27 tháng 10 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Châu Thị Thùy T trình bày:
- Về hôn nhân: chị và anh Trương Hoàng P cưới nhau vào năm 2000 và có đăng ký kết hôn vào năm 2001. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm về cách sống, cách suy nghĩa, cuộc sống không hòa hợp về nhiều mặt. Chị và anh P đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay chị thấy vợ chồng không còn hạnh phúc và không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu ly hôn với anh P.
Về con chung: Có hai con chung tên Trương Châu B, sinh ngày 08/01/2000 và Trương Châu B1, sinh ngày 24/12/2006. Hiện cháu B đã trưởng thành, cháu B1 đang sống chung với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi cháu B1.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Trương Hoàng P biết để tham gia phiên tòa theo quy định nhưng anh P vẫn không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng không cung cấp chứng cứ hoặc có ý kiến bằng văn bản phản hồi về việc chị T khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho phát biểu quan điểm
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng quy định pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Châu Thị Thùy T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Trương Hoàng P đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Chị Châu Thị Thùy T có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Trương Hoàng P nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, Tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Trương Hoàng P có nơi cư trú tại xã M, thành phố M nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
[3] Về hôn nhân: Chị T và anh P cưới nhau vào năm 2000, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố M vào năm 2001 là phù hợp với Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn chị T khai là do bất đồng quan điểm về cách sống, cách suy nghĩa, cuộc sống không hòa hợp về nhiều mặt. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay.
Xét thấy anh P đã được Tòa án triệu tập đến để hòa giải đoàn tụ nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do, cho thấy phía anh P không có thiện chí nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng, thời gian sống ly thân giữa chị T và anh P đã kéo dài mà không giải quyết được mâu thuẫn. Hội đồng xét xử xét thấy đời sống hôn nhân giữa chị T và anh P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T ly hôn với anh P là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Có hai con chung tên Trương Châu B, sinh ngày 08/01/2000 và Trương Châu B1, sinh ngày 24/12/2006. Hiện cháu B đã trưởng thành, cháu B1 đang sống chung với chị T. Khi ly hôn chị T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi cháu B1.
Xét thấy do cháu B1 cũng đang sống chung với chị T nên để tránh xáo trộn trong cuộc sống của các cháu ảnh hưởng đến việc học tập, sinh hoạt, xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cháu B1 cho chị T trực tiếp nuôi là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh P không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Chị T chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Châu Thị Thùy T và anh Trương Hoàng P.
- Về nuôi con chung: giao con chung tên Trương Châu B1, sinh ngày 24/12/2006 cho chị Châu Thị Thùy T trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh Trương Hoàng P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Châu Thị Thùy T phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 24529 ngày 02 tháng 11 năm 2023 của Cơ quan thi hành án dân sự thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Vĩnh Lộc |
Bản án số 71/2024/HNGĐ-ST ngày 06/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn giữa chị trang và anh phương
- Số bản án: 71/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn giữa chị Trang và anh Phương
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
