Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÀNG LONG

TỈNH TRÀ VINH

Bản án số: 71/2024/HN - ST

Ngày: 05 - 9 - 2024

“V/v Tranh chấp ly hôn, quyền

nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi

con khi ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Thanh.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Bà Trần Thị Thi.
    2. Bà Lê Thị Kim Liên.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngoan – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 130/2024/TLST - HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024. Về tranh chấp ly hôn, quyền nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2024/QĐXXST – HN ngày 12 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 171/2024/QĐST – HN ngày 29 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hồ Huỳnh N, sinh năm 2002. Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

Bị đơn: Ông Huỳnh Tấn Đ, sinh năm 1997. Địa chỉ: ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Hồ Huỳnh N trình bày: Bà với ông Huỳnh Tấn Đ do mai mối và được cha mẹ hai bên đồng ý tổ chức đám cưới năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M Sau khi cưới thì vợ chồng sống bên nhà cha mẹ ruột của ông Đ, cuộc sống hạnh phúc đến tháng 12/2021 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là bất đồng quan điểm trong cuộc sống kéo dài nên mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng, ông Đ không lo làm ăn, không quan tâm vợ con và cuộc sống gia đình, bà đã nhiều lần khuyên nhưng ông Đ không thay đổi, bà và ông Đ đã tạo điều kiện hàn gắn nhiều lần nhưng vẫn không có tiếng nói chung, từ đó mà vợ chồng ly thân nhau mạnh ai nấy sống. Nay tình cảm vợ chồng cũng không còn, hàn gắn không hạnh phúc bà yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Tấn Đ.

  • - Về con chung: Tên Huỳnh Ngọc V, sinh ngày 30/9/2020 hiện đang sống với bà N; khi ly hôn bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng và yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) cho đến khi tròn 18 tuổi.
  • - Về tài sản chung; Về nợ chung phải thu, phải trả: Bà N khai không có, không yêu cầu giải quyết.

Ông Huỳnh Tấn Đ vắng mặt nên không có lời trình bày.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long trình bày quan điểm cho rằng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý đến thời điểm này Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định theo Điều 48 của Bộ Luật tố tụng dân sự, đảm bảo về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp, xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời gian ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát, cấp tống đạt các văn bản tố tụng, đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa Hội đồng xét xử thực hiện đầy đủ và đúng theo trình tự pháp luật quy định của phiên tòa sơ thẩm.

Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng đối với nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định Điều 70, 71 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện nghiêm quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự; Luật Hôn nhân gia đình và các quy định pháp luật có liên quan. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N. Về hôn nhân: Cho bà N được ly hôn với ông Đ.
  2. Về con chung: Giao bà N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Huỳnh Ngọc V, sinh ngày 30/9/2020.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Huỳnh Ngọc V mỗi tháng 1.000.000đồng (Một triệu đồng) cho đến khi tròn 18 tuổi.
  4. Về tài sản chung; Về nợ chung phải thu phải trả: Không yêu cầu giải quyết, đề nghị không xem xét.
  5. Về án phí: Đương sự có nghĩa vụ nộp theo quy định pháp luật, trừ trường hợp miễn nộp hoặc không phải nộp.

Tại phiên tòa bà Hồ Huỳnh N là nguyên đơn có đơn yêu cầu vắng mặt; ông Huỳnh Tấn Đ là bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự trong vụ án và quan điểm của Viện kiểm sát. Tòa án nhân dân huyện Càng Long nhận định:

Về tố tụng:

  • [1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà N khởi kiện ly hôn với ông Đ. Đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
  • [2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà N có nơi cư trú tại ấp L, xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang; ông Đ có nơi cư trú ấp S, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ vào khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Càng Long có thẩm quyền giải quyết vụ án.

Về nội dung:

  • [3] Bà N và ông Đ xác lập quan hệ hôn nhân năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh theo quy định của pháp luật được thể hiện tại giấy chứng nhận kết hôn số 32 ngày 13/5/2020. Từ đó xác định hôn nhân giữa bà N với ông Đ là hôn nhân hợp pháp.
  • [4] Xét về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo bà N cho rằng do bất đồng quan điểm trong cuộc sống kéo dài nên mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng, ông Đ không lo làm ăn, không quan tâm vợ con và cuộc sống gia đình, bà đã nhiều lần khuyên nhưng ông Đ không thay đổi, bà và ông Đ đã tạo điều kiện hàn gắn nhiều lần nhưng vẫn không có tiếng nói chung, từ đó mà vợ chồng ly thân nhau mạnh ai nấy sống. Nay bà N yêu cầu được ly hôn với ông Đ.

Căn cứ vào biên bản xác minh từ phía địa phương và người biết sự việc cung cấp thì cuộc sống vợ chồng bà N và ông Đ không hạnh phúc, vợ chồng không còn sống chung từ năm 2021 cho đến nay mạnh ai nấy sống. Và tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bà N cũng xác định tình cảm vợ chồng giữa bà và ông Đ không còn, hàn gắn không hạnh phúc. Từ đó nhận thấy mâu thuẫn giữa bà N với ông Đ là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N. Cho bà N và ông Đ được ly hôn với nhau là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

  • [5] Về con chung: Tên Huỳnh Ngọc V, sinh ngày 30/9/2020 hiện đang sống với bà N; khi ly hôn bà N yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng và yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000đồng (Một triệu đồng) cho đến khi tròn 18 tuổi.

Xét thấy từ lúc bà N và ông Đ ly thân nhau cho đến nay thì bà N là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu V, bà N vẫn đảm bảo chăm sóc tốt; do đó để đảm bảo tốt về điều kiện nuôi dưỡng cũng như thuận tiện cho việc chăm sóc con, khi ly hôn nên giao cháu V cho bà N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Đ không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật; xét thấy bà N yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi cháu V mỗi tháng 1.000.000đồng (Một triệu đồng) là hoàn toàn phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

  • [6] Về tài sản chung; Về nợ chung phải thu, phải trả: Đương sự chưa đặt ra yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • [7] Quan điểm của Vị kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  • [8] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà N và ông Đ có nghĩa vụ chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227; 228; 238 và khoản 1 Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 19, 56, 81, 82, 83 và Điều 107 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Huỳnh N. Về hôn nhân: Cho bà Hồ Huỳnh N và ông Huỳnh Tấn Đ được ly hôn.
  2. Về con chung: Tên Huỳnh Ngọc V, sinh ngày 30/9/2020; khi ly hôn giao bà Hồ Huỳnh N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, người không nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  1. Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông Huỳnh Tấn Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Huỳnh Ngọc V, sinh ngày 30/9/2020 mỗi tháng 1.000.000đồng (Một triệu đồng) cho đến khi tròn 18 tuổi.
  2. Về tài sản chung; về nợ chung phải thu, phải trả: Đương sự chưa đặt ra yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về án phí sơ thẩm: Bà Hồ Huỳnh N có nghĩa vụ nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân. Đối với số tiền 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà bà N đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002494 ngày 22 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long được khấu trừ số tiền án phí mà bà N có nghĩa vụ chịu, do đó bà N không phải nộp. Ông Huỳnh Tấn Đ có nghĩa vụ nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng.

“ Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết ".

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận :

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKS huyện Càng Long;
  • - Chi cục THADS;
  • - UBND xã Mỹ Cẩm;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Tuyết Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2024/HN - ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp ly hôn, quyền nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 71/2024/HN - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, quyền nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con giữa N với Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger