Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 04/12/2023

“V/v: Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Ngọc Triệu

Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang
  2. Ông Nguyễn Phước Lộc

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Ngọc Chí - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa:

Ông Lê Văn Chung

- Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia và đình thụ lý số: 211/2023/TLST - HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2023 về việc: “Ly hôn; Nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 31 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 156/2023/QÐST-HNGĐ, ngày 16 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1997; CCCD số: [...], do Cục C về TTXH cấp ngày 18/11/2021.
  2. Địa chỉ: tổ I ấp K, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

  3. Bị đơn: Anh Văn Quốc H, sinh năm 1993; CCCD số: [...], do Cục C về TTXH cấp ngày 27/8/2022.
  4. Địa chỉ: ấp K, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 5 năm 2023, các lời khai có trong hồ sơ nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết M trình bày:

Tôi và anh Văn Quốc H là đến với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang ngày 25/6/2020. Thời gian đầu chung sống với nhau hạnh phúc. Quá trình chung sống vợ chồng có một con chung là Văn Thị Như Q, sinh ngày 06/8/2020.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại ấp K, xã C, thành phố P tại gia đình nhà chồng. Cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc, nhưng thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn. Cụ thể: Từ năm 2022 thì mâu thuẫn giữa vợ chồng trở nên trầm trọng, trong năm 2022 gia đình nhà chồng bán đất có cho tiền thì anh H dùng số tiền này ăn chơi, nhậu nhẹt, tụ tập bạn bè, mỗi lần nhậu vào anh H chửi bới, đánh đập vợ con, cụ thể là vào ngày 08/02/2023 anh H đánh đập chị M thì chị M có báo chính quyền Công an xã C can thiệp lập biên bản. Chị M đã nhiều lần cho anh H cơ hội để khắc phục, sữa chữa để vợ chồng quay lại chung sống đoàn tụ với nhau, nhưng không được mà mâu thuẫn lại càng trầm trọng hơn. Nên đầu năm 2023 chị M đã dẫn con về bên ngoại tại T và sống từ đó cho đến nay.

Chị M đã nộp đơn khởi kiện ly hôn với anh H và đã cho anh H cơ hội sữa chữa nên đã rút đơn khởi kiện theo quyết định đình chỉ vụ án số 18/QÐST-HNGĐ ngày 13/3/2023, nhưng vì anh H không thay đổi nên chị M tiếp tục khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh H.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân trầm trọng, hạnh phúc không đạt được. Chị M yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề như sau:

Về hôn nhân: Chị M yêu cầu được ly hôn với anh Văn Quốc H.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Văn Thị Như Q, sinh ngày 06/8/2020 chị M yêu cầu được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (18 tuổi); không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con cùng.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Minh xác n không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Văn Quốc H đã được Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc triệu tập hợp lệ nhiều lần để lấy lời khai, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt. Mặc dù anh H có mặt tại chỗ ở hiện nay, nhưng vẫn cố tình lánh mặt, không tham gia tố tụng tại Tòa án. Do đó, Tòa án không thể tiến hành ghi lời khai, công khai chứng cứ và hòa giải được.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa như sau:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự và những người tham dự phiên tòa đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay chị M có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp theo khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị M được ly hôn với anh H.

Về con chung: Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình giao cháu Văn Thị Như Q, sinh ngày 06/8/2020 cho chị M chăm sóc, nuôi dưỡng đến đủ tuổi trưởng thành (18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chị M không yêu cầu, đề nghị miễn xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu, đề nghị miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Tuyết M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy việc đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt là phù hợp quy định pháp luật, căn cứ Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xử vắng mặt nguyên đơn chị M.

Anh Văn Quốc H (là bị đơn trong vụ án) đã được Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt liên tục không có lý do chính đáng của bị đơn nhằm gây khó khăn cho nguyên đơn, kéo dài việc giải quyết vụ án. Sau khi làm đầy đủ thủ tục tố tụng, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn anh H.

[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết M và anh Văn Quốc H đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 25/6/2020, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa chị M, anh H là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Quá trình giải quyết vụ án chị Minh xác đ tình trạng hôn nhân trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị M yêu cầu được ly hôn với anh H.

Xét yêu cầu của chị M Hội đồng xét xử thấy rằng, việc chị Minh xác đ khi sống chung với anh H giữa vợ chồng có nhiều mâu thuẫn là phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương nơi chị M, anh Hiếu sinh s, chị M đã khởi kiện ly hôn tại Tòa án và đã rút đơn kiện để cho anh H cơ hội sữa chữa, nhưng anh H không thay đổi được. Căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M và quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát chấp nhận cho chị M được ly hôn với anh H là phù hợp.

[3] Về con chung: Chị M, anh H sống chung sinh được một người con là cháu Văn Thị Như Q.

Quá trình giải quyết vụ án chị M yêu cầu được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Q đến tuổi trưởng thành (18 tuổi). Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Q cho chị M nuôi dưỡng là phù hợp, đảm bảo cho sự phát triển về tinh thần, thể chất, trí tuệ của con chưa thành niên. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị M không yêu cầu, Hội đồng xét xử miễn xét.

Không ai có quyền ngăn cản việc thăm nom và chăm sóc con chung. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết Minh xác n1 không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Chị M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Áp dụng các Điều 28; 39; 147; 227; 228; 238; 266; 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Áp dụng Điều 9; 51; 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Áp dụng khoản 5 Điều 27, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Tuyết M được ly hôn anh Văn Quốc H.
  2. Về con chung:
    1. Giao cháu Văn Thị Như Q, ngày 06/8/2020 cho chị Nguyễn Thị Tuyết M nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
    2. Về cấp dưỡng: Anh Văn Quốc H không phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị Nguyễn Thị Tuyết M.

Không ai được quyền ngăn cản quyền gặp gỡ thăm và chăm sóc con chung.Vì lợi ích về mọi mặt của con, khi cần thiết có thể thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.

  1. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Tuyết M xác định không có, Hội đồng xét xử miễn xét.
  2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Tuyết M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0009339 ngày 13/7/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, chị M đã thực hiện xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành ánh án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Chị M, anh H vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú) để xin xét xử phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND thành phố Phú Quốc;
  • - THA Dân sự thành phố Phú Quốc;
  • - UBND thị trấn Tân Hiệp; huyện Tân Hiệp
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Ngọc Triệu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 71/2023/HNGĐ-ST ngày 04/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 71/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Tuyết Minh-Văn Quốc Hiếu mâu thuẫn ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger